Category Archives: Tin tức

Khả năng suy thoái kinh tế thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam

Cân nhắc khả năng suy thoái kinh tế ở nước này có thể dẫn đến suy thoái kinh tế ở nước khác và để cẩn trọng, TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV đánh giá khả năng kinh tế thế giới suy thoái năm 2023 là cao hơn 50%.

LTS: TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV vừa công bố báo cáo phân tích về “Khả năng suy thoái kinh tế thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam”. Chúng tôi xin đăng tải nguyên văn báo cáo để quý độc giả tiện theo dõi.

KHẢ NĂNG SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI

Về suy thoái kinh tế thế giới từ trước đến nay

Năm 2023, tăng trưởng GDP thế giới được nhiều tổ chức dự báo giảm so với năm 2022, trong đó một số nền kinh tế dự báo sẽ suy thoái. Tổ chức OECD (tháng 11/2022) dự báo tăng trưởng GDP thế giới sẽ giảm từ 3,1% năm 2022 xuống 2,2% năm 2023; trong đó, tăng trưởng kinh tế Mỹ giảm từ 1,8% năm 2022 xuống 0,5% năm 2023; khu vực Euro từ 3,3% xuống 0,5%, trong khi kinh tế Trung Quốc tăng từ 3,3% lên 4,6%. Lạm phát toàn cầu cũng được dự báo giảm với CPI toàn cầu từ mức tăng 8,8% năm 2022 xuống khoảng 6,5% năm 2023 và 4% năm 2024. Tuy nhiên, các ý kiến rất khác nhau về khả năng kinh tế thế giới có giảm đến mức suy thoái hay không, và nếu suy thoái thì quy mô, thời điểm và thời gian kéo dài như thế nào. Sự không đồng thuận về suy thoái kinh tế thế giới trước hết do không có một quy luật chung cho các lần suy thoái từ trước đến nay, rất khác nhau về tính chất, thời gian và cũng rất khác nhau giữa các nước.

Tuy nhiên, có thể rút ra bốn nhận định chung về suy thoái kinh tế thế giới thời gian qua như sau: (i) thời gian trung bình các lần suy thoái có xu hướng ngắn lại (nếu tính từ năm 1885, suy thoái kéo dài trung bình 17 tháng, nhưng nếu tính từ Thế chiến II, suy thoái chỉ kéo dài trung bình khoảng 10 tháng). Tuy nhiên, thời gian các lần suy thoái rất khác nhau, ngắn nhất có thể là 3 tháng và dài nhất lên đến 43 tháng (Đại khủng hoảng 1930-1933); (ii) Mỹ có mặt trong tất cả các lần thế giới suy thoái (do đó, suy thoái kinh tế Mỹ thường được hiểu là có thể dẫn đến suy thoái kinh tế thế giới); (ii) nguyên nhân suy thoái không giống nhau (có thể do cú sốc cắt giảm sản lượng dầu, đại dịch Covid-19, hoặc bắt nguồn từ khủng hoảng tài chính năm 2008-2009…); (iv) các chỉ số về hoạt động kinh tế có xu hướng chậm lại trong 1,5-2 năm trước khi xảy ra suy thoái toàn cầu.

Đánh giá khả năng suy thoái kinh tế thế giới trong năm 2023

Nhóm nghiên cứu đánh giá khả năng suy thoái kinh tế thế giới thông qua đánh giá khả năng suy thoái đối với một số nền kinh tế lớn, bao gồm: Mỹ (chiếm 21,3% GDP thế giới 2022), khu vực EUR (11,9% GDP thế giới), Anh (2,7% GDP thế giới), Nhật Bản (3,7% GDP thế giới) và Trung Quốc (17,2% GDP thế giới). Do chiếm tỷ trọng lớn (gần 57%) trong GDP thế giới, biến động của các nền kinh tế này thường gắn liền với biến động kinh tế thế giới (Hình 1).

Nhóm nghiên cứu định nghĩa suy thoái như sau: (i) đối với kinh tế thế giới là khi tăng trưởng GDP cả năm dưới 1% (đây cũng là định nghĩa của WB), theo đó gần đây thế giới đã hai lần suy thoái kinh tế vào năm 2008-2009 và năm 2020; (ii) đối với các nước phát triển (Mỹ, khu vực EUR, Anh và Nhật Bản) là khi tăng trưởng GDP cả năm âm; và (iii) với Trung Quốc là khi tăng trưởng GDP cả năm thấp hơn đáng kể xu thế dài hạn.

Việc đánh giá khả năng suy thoái của từng nền kinh tế sẽ dựa trên một số chỉ số kinh tế và tài chính. TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV quan sát thấy các chỉ số này thường giảm thấp (hoặc tăng cao tùy theo chỉ số) trước và trong khi suy thoái xảy ra. Để đảm bảo thống nhất và khách quan trong đánh giá, một chỉ số sẽ chỉ báo suy thoái khi giảm thấp (hoặc tăng cao) đến ngưỡng nhất định, ngưỡng này xác định bằng tiêu chuẩn thống kê mà do giới hạn bài viết Nhóm chuyên gia không thể nêu chi tiết.

Khả năng suy thoái kinh tế thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam - Ảnh 1.

Các chỉ số về hoạt động kinh tế:

(1) Thị trường lao động: ngoại trừ Trung Quốc đang có tỷ lệ thất nghiệp ở mức trung bình, các nước đều đang có tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp (Hình 2). Như vậy, tỷ lệ thất nghiệp chưa chỉ báo suy thoái kinh tế đối với nước nào; thậm chí đang chỉ báo là tăng trưởng kinh tế đối với Mỹ, khu vực EUR, Anh và Nhật Bản với tỷ lệ đang ở mức thấp so với trung bình dài hạn. Tuy nhiên, cũng có điểm cần lưu ý là thị trường lao động thay đổi đáng kể (ra vào nhanh hơn) nên số liệu này cũng không phản ánh chính xác hoàn toàn.

Khả năng suy thoái kinh tế thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam - Ảnh 2.

(2) Sản xuất công nghiệp (SXCN): ngoại trừ Trung Quốc đang có tốc độ tăng SXCN ở mức thấp (tính đến tháng 11/2022 là 4,2%, thấp hơn đáng kể mức trung bình dài hạn là 10%), các nước đều đang có tốc độ tăng SXCN ở mức trung bình. Chẳng hạn như Mỹ, tốc độ tăng sản xuất công nghiệp tính đến tháng 11/2022 là 2,5%, so với mức trung bình dài hạn là khoảng 1%.  Như vậy, SXCN đang chỉ báo suy thoái kinh tế nhẹ đối với Trung Quốc (chủ yếu là do áp dụng chính sách zero-Covid), nhưng chưa chỉ báo suy thoái kinh tế đối với Mỹ, khu vực EUR, Anh và Nhật Bản.

(3) Niềm tin kinh doanh và tiêu dùng: Chỉ số niềm tin kinh doanh ở Mỹ, khu vực EUR và Trung Quốc mặc dù đang có xu hướng giảm đều đang ở mức trung bình dài hạn, chưa cho thấy nguy cơ suy thoái. Tuy nhiên, chỉ số niềm tin tiêu dùng đang ở mức thấp tại tất cả các nước hay khu vực, chỉ báo nguy cơ suy thoái (Hình 3).

Khả năng suy thoái kinh tế thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam - Ảnh 3.

 (4) Doanh số bán lẻ: ngoại trừ Mỹ và Nhật Bản đang có tốc độ tăng doanh số bán lẻ ở mức trung bình và trên mức trung bình, các nước, khu vực khác đều có doanh số bán lẻ liên tục giảm trong nhiều tháng. Như vậy, doanh số bán lẻ đang chỉ báo suy thoái kinh tế cho Anh, khu vực EUR và Trung Quốc.

(5) Thị trường bất động sản: trong năm 2008-2009 giá nhà tại Mỹ và Anh đã giảm mạnh, giảm khoảng 20%. Hiện nay giá nhà tại Mỹ (chỉ số Case Shiller) tính đến tháng 10/2022 vẫn tăng 8,6% và tại Anh (chỉ số Halifax) tính đến tháng 11/2022 vẫn tăng 4,7% so với cùng năm trước. Như vậy, thị trường bất động sản tại Anh và Mỹ chưa chỉ báo suy thoái, tuy nhiên cũng cho thấy rủi ro, nguy cơ “điều chỉnh giảm” trong ngắn hạn tại hai nước này như đang diễn ra tại một số quốc gia.

Các chỉ số về tài chính:

(6) Lợi suất trái phiếu Chính phủ (TPCP): Đường cong lợi suất TPCP chỉ báo suy thoái kinh tế khi lợi suất kì hạn ngắn cao hơn kì hạn dài (gọi là đường cong lợi suất đảo ngược). Cập nhật đến thời điểm bài viết này, chênh lệch lợi suất TPCP giữa kỳ hạn 10 năm và kỳ hạn 2 năm là âm 59,2 bp (điểm cơ bản) đối với Mỹ; dương 48 bp đối với khu vực EUR; dương 0,6 bp đối với Anh; dương 40,5 bp đối với Nhật Bản; và dương 51,2 bp đối với Trung Quốc. Như vậy, đường cong lợi suất TPCP đang chỉ báo suy thoái kinh tế đối Mỹ nhưng chưa chỉ báo suy thoái đối với nước/khu vực còn lại.

(7) Thị trường chứng khoán (TTCK): mặc dù các TTCK lớn có xu hướng giảm (từ 15-20%) kể từ đầu năm 2022 đến nay, nhưng một số chỉ số chính vẫn đang ở mức cao (Dow Jones và Nikkei) hoặc ít nhất đang ở mức trung bình (STOXX 50, FTSE 100 và Shanghai) (Hình 4). Đồng thời, chỉ số biến động TTCK Mỹ (VIX) cho thấy TTCK Mỹ mặc dù đang kém ổn định hơn giai đoạn trước dịch Covid-19 nhưng vẫn ổn định hơn nhiều so với thời điểm suy thoái 2008-2009 và 2020. Do đó, TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV đánh giá TTCK chưa chỉ báo suy thoái ở các nước, thậm chí vẫn còn tích cực đối với Mỹ và Nhật Bản.

Khả năng suy thoái kinh tế thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam - Ảnh 4.

Chỉ số tổng hợp:

Ngoài các chỉ số kinh tế và tài chính nêu trên, TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV tham khảo thêm chỉ số kinh tế dẫn báo (LEI) do The Conference Board công bố, như một chỉ số tổng hợp từ các chỉ số riêng lẻ. Chỉ số này chỉ báo suy thoái khi liên tục giảm trong 6 tháng. Căn cứ số liệu cập nhật đến thời điểm bài viết, chỉ số LEI đang chỉ báo (hoặc cảnh báo) suy thoái đối với Mỹ, Anh và khu vực EUR, bắt đầu đối với Trung Quốc (nếu không có điều chỉnh chính sách), nhưng chưa cảnh báo suy thoái đối Nhật Bản.

Đánh giá khái quát:

Bảng 1 dưới đây tổng hợp các chỉ báo nêu trên về triển vọng của từng nền kinh tế, trong đó các chỉ báo này có thể dự đoán kinh tế tăng trưởng (+) hoặc suy thoái (-) hoặc ở mức trung bình (o). Tính đến thời điểm hiện tại, các chỉ số kinh tế – tài chính nhìn chung vẫn đang tích cực, hoặc ít nhất là không quá tiêu cực, đối với các nước, khu vực. Tích cực nhất là về thị trường lao động với tỷ lệ thất nghiệp của các nước đang thấp hơn mức trung bình dài hạn. TTCK, thị trường bất động sản và niềm tin kinh doanh vẫn ở trạng thái khá tích cực (hoặc ở dạng đang điều chỉnh giảm do tăng khá nóng 2 năm qua). Trong khi đó, do lạm phát, giá sinh hoạt tăng cao ảnh hưởng đến thu nhập khả dụng của người dân, niềm tin tiêu dùng kém tích cực hơn so với niềm tin của nhà sản xuất và đầu tư. Mặc dù vậy, tình hình cụ thể của từng nền kinh tế không hoàn toàn giống nhau. Căn cứ số chỉ báo suy thoái so với số chỉ báo tăng trưởng và ý kiến chuyên gia, TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV đánh giá khả năng suy thoái với Mỹ là 50-60%, với khu vực EUR và Anh là 60-70%, và Trung Quốc, Nhật Bản thấp hơn 50%.

Khả năng suy thoái kinh tế thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam - Ảnh 5.

Cân nhắc khả năng suy thoái kinh tế ở nước này có thể dẫn đến suy thoái kinh tế ở nước khác và để cẩn trọng, TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV đánh giá khả năng kinh tế thế giới suy thoái năm 2023 cao hơn 50%. Thời điểm suy thoái nhiều khả năng là từ Quý 2/2023 do các chỉ số hoạt động kinh tế mới bắt đầu chậm lại từ đầu năm 2022. Như nêu trên, các chỉ số về hoạt động kinh tế chậm lại trung bình trong 1,5-2 năm trước suy thoái. Suy thoái lần này có thể kéo dài khoảng 1 năm, tức là đến hết Quý 1/2024.

Do suy thoái sẽ dẫn đến giảm tổng cầu và áp lực lạm phát sẽ dịu đi, khả năng kinh tế thế giới đình lạm (đình trệ đi với lạm phát cao) nếu có sẽ chủ yếu do xung đột Nga – Ukraine leo thang mà theo Nhóm chuyên gia là khả năng không cao (khả năng cao chỉ là bế tắc, kéo dài).

TÁC ĐỘNG CỦA SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

Năm 2023, Việt Nam được dự báo có tăng trưởng GDP giảm so với năm 2022 xuống còn khoảng 6-6,5%, do xuất khẩu, đầu tư, tiêu dùng và du lịch quốc tế phục hồi chậm lại trong bối cảnh kinh tế thế giới suy thoái nhẹ, cục bộ như nêu trên. Trong khi đó, lạm phát (CPI) bình quân dự báo tăng so với năm 2022 lên mức 4-4,5%, chủ yếu do tăng lương cơ sở và giá một số hàng hóa thiết yếu do Nhà nước quản lý (điện, dịch vụ y tế, giáo dục..), do độ trễ tác động của giá nhập khẩu mặc dù là giá cả, lạm phát toàn cầu đã qua đỉnh và đang tăng chậm lại trong năm 2023. Tuy nhiên, dự báo trên chưa tính đến đầy đủ tác động của suy thoái kinh tế thế giới có thể ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam trên những mặt sau:

(1) Đối với xuất khẩu: với suy thoái 2008-2009 trước đây, xuất khẩu (hàng hóa và dịch vụ) ròng của Việt Nam đã giảm mạnh trong 4 năm (2007-2010), trước khi khôi phục lại mức trước suy thoái (Hình 5). Năm 2022, xuất khẩu hàng hóa đã tăng chậm lại kể từ tháng 8 và cả năm tăng 10,6%, thấp hơn mức 18,9% của năm 2021. Do đó, nếu suy thoái kinh tế thế giới xảy ra trong năm 2023, tốc độ tăng xuất khẩu của Việt Nam sẽ thấp (khả năng chỉ khoảng 5-6%), ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP ít nhất là năm 2023 và cũng sẽ ảnh hưởng đến hệ thống tài chính, nhất là nợ xấu của hệ thống ngân hàng có thể gia tăng.

(2) Đối với đầu tư nước ngoài: với suy thoái 2008-2009, đầu tư trực tiếp và chuyển giao vãng lai (kiều hối) hầu như không bị ảnh hưởng, trong khi đầu tư gián tiếp giảm trong 2 năm (2008-2009) (Hình 5). Năm 2022, giải ngân FDI vẫn tăng 13,5% và đầu tư gián tiếp vẫn tương đương năm ngoái (theo NHNN 9 tháng/2022 là 0,4 tỷ USD; 9 tháng/2021 là 0,5 tỷ USD). Do đó, TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV dự đoán nếu suy thoái kinh tế thế giới xảy ra trong năm 2023, đầu tư trực tiếp và kiều hối sẽ chịu ảnh hưởng không đáng kể do nhà đầu tư nước ngoài vẫn lạc quan về triển vọng của nền kinh tế Việt Nam trong dài hạn; trong khi đầu tư gián tiếp có thể giảm trong ngắn hạn (năm 2023).

Khả năng suy thoái kinh tế thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam - Ảnh 6.

(3) Đối với cán cân thanh toán và tỷ giá: theo TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV, cán cân thanh toán thâm hụt ròng năm 2022 chủ yếu do FED tăng lãi suất đã ảnh hưởng đến chuyển giao vãng lai (như kiều hối), đầu tư khác trong cán cân tài chính và lỗi & sai sót (9 tháng đầu năm 2022 chuyển giao vãng lai thặng dư 3,8 tỷ USD, thấp hơn nhiều so với mức 8,3 tỷ USD cùng kỳ năm ngoái; đầu tư khác thâm hụt 2,7 tỷ USD so với thặng dư 13,2 tỷ USD và lỗi & sai sót âm 23,5 tỷ USD, cao hơn nhiều so với mức âm 4,2 tỷ USD cùng kỳ năm ngoái); trong khi đầu tư nước ngoài (cả gián tiếp lẫn trực tiếp), cán cân dịch vụ hầu như không bị ảnh hưởng và cán cân hàng hóa tăng. Kinh tế thế giới suy thoái mặc dù giúp cải thiện cán cân tài chính khi FED dừng tăng (thậm chí giảm) lãi suất (khiến cán cân vãng lai giảm nhiều hơn do xuất khẩu ròng giảm như nêu trên), nhưng sẽ ảnh hưởng đến cán cân thanh toán bị tiếp tục thâm hụt và VND có thể tiếp tục chịu sức ép mất giá trong năm 2023.

(4) Đối với lao động và năng suất lao động: với suy thoái 2008-2009 tỷ lệ thất nghiệp đã tăng cao trong hai năm 2008 và 2009, lên tương ứng là 6,65% và 4,66%. Năm 2022, lao động của các doanh nghiệp công nghiệp đã bắt đầu tăng chậm lại với 2 tháng cuối năm 2022 chỉ tăng 0,4% so với tháng trước, thấp hơn nhiều so với mức tăng bình quân trên 1% trong 10 tháng đầu năm 2022. Do đó, Nhóm chuyên gia dự đoán nếu suy thoái kinh tế thế giới xảy ra trong năm 2023, thất nghiệp sẽ tăng khi hoạt động xuất khẩu, sản xuất công nghiệp giảm. Thất nghiệp tăng trong ngắn hạn có thể ảnh hưởng đến năng suất lao động cũng như năng suất của nền kinh tế trong trung và dài hạn. Nguyên nhân là người lao động thất nghiệp lâu nên kỹ năng giảm sút, quan hệ sản xuất – kinh doanh đứt đoạn nên khó tìm việc khi sản xuất, kinh doanh trở lại. Theo tác giả Goldin (2021), suy thoái 2008-2009 đã khiến tốc độ tăng năng suất lao động trung bình năm giữa giai đoạn 1996-2005 và 2006-2017 giảm từ 1,85% xuống 0,91% đối với Đức, từ 1,68% xuống 0,85% đối với Nhật Bản, và từ 2,62% xuống 1% đối với Mỹ.

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Để đối phó với rủi ro suy thoái kinh tế thế giới trong năm 2023, cũng như tăng tính tự lực, tự cường, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế; TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV kiến nghị 5 nhóm giải pháp chính sách như sau.

Một là, tiếp tục bám sát, dự báo tình hình kinh tế, tài chính – tiền tệ quốc tế để có phương án ứng phó kịp thời; nâng cao hơn nữa hiệu quả phối hợp chính sách, nhất là giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, các cân đối lớn của nền kinh tế, hỗ trợ tăng trưởng. Theo đó, quan tâm đảm bảo 4 cân bằng: giữa kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng, giữa lãi suất và tỷ giá, giữa cân đối ngân sách và hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân.

Hai là, quyết liệt cải thiện thực chất môi trường đầu tư – kinh doanh, giảm thiểu thủ tục hành chính nhằm tận dụng cơ hội dịch chuyển chuỗi cung ứng, kiến tạo thúc đẩy đầu tư trong và ngoài nước, tăng năng suất và giảm chi phí sản xuất, kinh doanh. Định hướng, hỗ trợ doanh nghiệp đa dạng hóa các thị trường, đối tác xuất khẩu trong bối cảnh các thị trường chính tăng trưởng chậm lại hoặc suy thoái, tận dụng tốt hơn các FTAs đã ký kết.

Ba là, có đề án, giải pháp cụ thể để tháo gỡ 3 vướng mắc, khó khăn chính hiện nay của doanh nghiệp là pháp lý (nhất là trong các lĩnh vực đất đai, bất động sản, xây dựng, đấu thầu…), tiếp cận vốn (nhất là qua kênh trái phiếu doanh nghiệp và điều hành tín dụng hợp lý), lao động (nhất là đối với các lĩnh vực chịu tác động giảm mạnh đơn hàng như dệt may, da giày, điện tử, gỗ…).

Bốn là, xây dựng chiến lược, giải pháp cụ thể để tăng tính độc lập, tự chủ, tự cường và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế, của các ngành, lĩnh vực và doanh nghiệp Việt Nam, trong đó cần tập trung ưu tiên một số vấn đề như: chất lượng tăng trưởng (trong đó có năng suất lao động); đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế nhằm phân bổ, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn; phát triển cân bằng thị trường tài chính, quan tâm quản lý rủi ro hệ thống tài chính và rủi ro liên thông giữa tài chính – bất động sản; tăng mức độ tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, tăng nội lực, mức độ nội địa hóa các yếu tố đầu vào; xây dựng chiến lược an ninh năng lượng; khung phòng chống rủi ro, gồm cả kịch bản khi tình huống xấu xảy ra…v.v.

Năm là, đẩy nhanh hoàn thiện thể chế, bao gồm cả cơ chế, chính sách tháo gỡ vướng mắc cho những vấn đề hiện tại và xây dựng hành lang pháp lý (kể cả cơ chế thử nghiệm  – sandbox) phục vụ phát triển kinh tế số, mô hình kinh doanh mới, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, vừa là để bắt kịp xu thế, vừa là tận dụng cơ hội và góp phần vượt qua thách thức hiện nay và sắp tới.

Thực hiện báo cáo:

TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV

Theo https://markettimes.vn/kha-nang-suy-thoai-kinh-te-the-gioi-va-kien-nghi-doi-voi-viet-nam-13190.html

Xu hướng phát triển bền vững ngành thương mại điện tử

Báo cáo nền kinh tế số Đông Nam Á lần thứ 7 nhận định thương mại điện tử là nền tảng đón đầu xu hướng tiêu dùng hiệu quả và phát triển bền vững, bất chấp những khó khăn của kinh tế toàn cầu. Không nằm ngoài sự chuyển dịch chung, các doanh nghiệp, thương hiệu Việt Nam đã và đang tìm đến thương mại điện tử để mở rộng mô hình kinh doanh và tăng trưởng.

Trên thực tế, 2 năm vừa rồi dưới tác động của Covid-19 ảnh hưởng rất lớn đến thị trường bán lẻ. Nếu không có sự phát triển của thương mại điện tử thời gian qua, Việt Nam có thể sẽ mất nhiều thời gian hơn để phục hồi kinh tế sau Covid-19.

Cụ thể, tốc độ tăng trưởng của ngành hàng tiêu dùng nhanh của ngành thương mại điện tử gấp 5 lần so với các kênh khác. Rõ ràng thương mại điện tử tăng trưởng nhanh là động cơ đóng góp tăng trưởng của ngành hàng tiêu dùng nhanh.

Các chuyên gia tham gia hội thảo “Thương mại điện tử – Xu thế phát triển bền vững” nhận định: Kinh doanh thương mại điện tử là cuộc chiến về chiến lược tư duy bền vững, đòi hỏi nhà nước và các doanh nghiệp phải cùng chung tay góp sức trên nhiều phương diện, đặc biệt là về pháp lý, công nghệ, nhân sự và cơ sở hạ tầng logistic.

Về phía nhà nước

Ông Jinwoo Song, Tổng giám đốc BAEMIN Việt Nam, đánh giá thị trường giao thức ăn trực tuyến tại Việt Nam hấp dẫn bởi so với những thị trường khác, thị trường Việt Nam có nhiều người trẻ sành sử dụng công nghệ, bắt kịp xu hướng hiện đại, sẵn sàng trải nghiệm những thói quen tiện lợi.

“Người tiêu dùng Việt Nam luôn cởi mở với nền văn hóa mới, do đó họ chính là động lực để chúng tôi cho ra đời và cải thiện những tính năng mới”, ông Jinwoo Song nhận xét. Cùng với đó là những cơ sở hạ tầng sự phát triển của công nghệ tài chính, tài xế giao hàng chất lượng cao, dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp.

“Ngoài ra về công nghệ, Việt Nam có lực lượng kỹ sư công nghệ chất lượng cao cùng với các ứng dụng được phát triển đạt chất lượng cao. Chính vì vậy, thị trường giao thức ăn trực tuyến tại Việt Nam trong thời gian tới vẫn vô cùng tiềm năng”, ông Jinwoo Song khẳng định.

Tuy nhiên, tại Việt Nam, một trong những mối quan tâm lớn nhất của doanh nghiệp khi kinh doanh trên thị trường đó là xác định các khung pháp lý để quản lý, vận hành hợp lý, hiệu quả trên thị trường.

Ông Jinwoo bày tỏ hi vọng sẽ nhận được sự hỗ trợ từ phía các cơ quan quản lý nhà nước trong việc hoàn thiện khung pháp lý về thương mại điện tử thông qua việc hoàn thiện môi trường pháp lý phù hợp với bối cảnh thực tế; giải quyết những bất cập trong quy định hiện tại về hoạt động thương mại điện tử có yếu tố nước ngoài, đồng thời xây dựng tín nhiệm tiêu chuẩn trong thương mại điện tử.

Thêm vào đó, Tổng giám đốc BAEMIN Việt Nam đề xuất Việt Nam nên phát triển các chương trình và chính sách đánh giá tín nhiệm websites thương mại điện tử, để khách hàng có một cơ sở tin cậy trong việc sử dụng các sản phẩm, dịch vụ, đồng thời thúc đẩy các nền tảng thương mại nâng cao chất lượng phục vụ.

Về phía doanh nghiệp

Mặc dù có những bước tiến lớn, song việc phát triển bền vững của doanh nghiệp vẫn gặp phải nhiều khó khăn, thách thức. Điển hình như thiếu công cụ quản lý và vận hành, chi phí nhân sự chuyên trách trong từng khâu vận hành vẫn thiếu, rào cản chi phí và thời gian nhận.

Nguyên nhân là do các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chi phí hạn chế. Việc vận chuyển cũng gặp khó do khoảng cách địa lý khá xa khiến thời gian giao nhận kéo dài.

Dựa trên tình hình đó, theo các chuyên gia, các doanh nghiệp, nhà bán hàng cần nâng cao năng lực cạnh tranh trên môi trường thương mại điện tử thông qua ba vấn đề chính: công nghệ, nhân sự và cơ sở hạ tầng logistic.

Về công nghệ

Trước những diễn biến phức tạp của nền kinh tế, các doanh nghiệp nên có những bước chuyển đổi số khi đưa ra những chiến lược kinh doanh dài hạn. Điều này giúp doanh nghiệp “giữ sức đường dài” để phục vụ người tiêu dùng tốt nhất, đặc biệt là những nhóm doanh nghiệp kinh doanh đa kênh, đa nền tảng.

Với giải pháp công nghệ, nhiều doanh nghiệp thương mại điện tử đã áp dụng AI, dữ liệu lớn để vận hành tích hợp, phân tích, theo dõi đơn hàng nhằm giải quyết các vấn đề về hàng hóa trong thương mại điện tử, quản lý hàng tồn kho để tối ưu hóa thời gian, chi phí hoạt động.

Điển hình, là một nền tảng thương mại điện tử lớn, Lazada xây dựng hầu hết các chiến lược bền vững xoay quanh công nghệ. Cụ thể, Lazada đã xây dựng các trung tâm quản lý và vận hành tích hợp cho nhà bán hàng, xây dựng hệ thống phân tích nâng cao giúp nhà bán hàng theo dõi tình trạng đơn hàng, dựa trên dữ liệu lớn để đưa ra những dự đoán về sức mua và xu hướng mua hàng để chia sẻ cho các nhà bán hàng.

Ngoài hệ thống trung tâm quản lý tối ưu hóa hoạt động vận hành, Lazada, Shopee và nhiều nền tảng thương mại điện tử cũng đang sử dụng công nghệ AI để gợi ý cho người tiêu dùng. Với công nghệ này, người tiêu dùng được cá nhân hóa sở thích, giúp họ tìm kiếm sản phẩm yêu thích, giảm thiểu thời gian tìm kiếm, giúp cho nhà bán hàng nắm bắt được xu hướng phục vụ khách hàng tốt hơn.

Thêm vào đó, những nền tảng thương mại điện tử còn tích hợp các công cụ giúp khách hàng có thể giải trí trong mua sắm như livestream hoặc game, nhằm hấp dẫn khách hàng. Như vậy, khi tham gia vào nền tảng thương mại điện tử, khách hàng không chỉ có không gian để mua sắm các sản phẩm dịch vụ, mà còn có thể kết hợp giải trí và giao lưu với người khác, từ đó giúp gia tăng doanh số cho nhà bán hàng.

Về nhân sự

Theo đánh giá của nhiều tập đoàn thương mại điện tử lớn, mặc dù quy mô thị trường thương mại điện tử Việt Nam đứng sau Indonesia nhưng sức bật, mặt bằng nhân lực ở Việt Nam vượt Indonesia, ngang bằng Thái Lan, và sau Singapore. Để đào tạo được một người ứng dụng thương mại điện tử bán hàng trực tuyến ở Indonesia mất thời gian gấp đôi ở Việt Nam.

Theo bà Lại Việt Anh, Phó Cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, nguồn nhân lực tham gia thương mại điện tử ở Việt Nam khá trẻ và có khả năng hấp thụ công nghệ mới nhanh nhạy, có thể khởi nghiệp trên môi trường số… Đây là những yếu tố rất thuận lợi cho các hoạt động đào tạo nhân lực thương mại điện tử ở Việt Nam.

Việt Nam có gần 75% người dùng internet tham gia mua sắm trực tuyến. Cùng với đó, gần 64% doanh nghiệp ưu tiên tuyển dụng nhân sự được đào tạo về công nghệ thông tin và thương mại điện tử. Tuy nhiên, chỉ có 30% nhân lực tại các công ty cung cấp giải pháp thương mại điện tử hiện nay được đào tạo chính quy.

Điều này đòi hỏi nhu cầu nhân lực lớn đáp ứng cho phát triển thương mại điện tử và chuyển đổi số của doanh nghiệp.

Để có thể xây dựng được nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh thương mại điện tử, các doanh nghiệp cần tăng cường hợp tác liên kết với các cơ sở đào tạo, từ khâu tham vấn, định hướng về giáo trình, nội dung kiến thức, dung lượng đào tạo đến khâu tuyển dụng đầu ra, từ đó, phát huy năng lực và thế mạnh của mỗi bên, khai thác và tận dụng hiệu quả các tiềm năng về cơ sở vật chất, con người, chuyên môn trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về thương mại điện tử.

Thêm vào đó, doanh nghiệp cần tăng cường tạo điều kiện để các cán bộ chuyên về thương mại điện tử tham gia thêm các khóa tập huấn đào tạo thêm về các lĩnh vực liên quan như: quản trị hệ thống, quản trị kinh doanh, marketing, thương mại, pháp luật quốc tế… để phục vụ hiệu quả cho doanh nghiệp.

Về logistic

Theo bà Nguyễn Thị Bạch Yến, Phó Tổng Giám đốc Smartlog Việt Nam, có 3 bài toán cần giải về logistics cho các doanh nghiệp kinh doanh đa kênh.

Sự phát triển của thương mại điện tử, sự đổi mới trong kinh doanh 4.0 đã tạo ra sự phức tạp trong vấn đề logistics. Hiện nay, giải pháp các doanh nghiệp đang sử dụng là đầu tư đội ngũ lớn để nhận hàng, đưa về kho và xử lý. Tuy nhiên, theo khảo sát, tỷ lệ hàng có sẵn trên kệ cho thấy bán hàng đa kênh chỉ đạt 80%. Trong khi kinh doanh truyền thống thì tỉ lệ này lên tới 98 – 99%. Chính vì vậy, doanh nghiệp cần ứng dụng những phần mềm xử lý đơn hàng để các doanh nghiệp có thể kéo đơn hàng về và xử lý với tốc độ nhanh nhất.

Thứ 2 là tối ưu tồn kho. Bán hàng đa kênh tạo ra thách thức về quản lý tồn kho sao cho hiệu quả. Hiện các doanh nghiệp chưa tập trung vào việc này dẫn đến trải nghiệm người dùng chưa tốt. Vì vậy, doanh nghiệp cũng cần chú ý tích hợp hoặc xây dựng phần mềm quản lý tồn kho để tăng năng lực soạn hàng, cải thiện chi phí.

Thứ 3 là giao hàng. Kinh doanh đa kênh phụ thuộc nhiều vào đối tác vận chuyển, nhưng lại không có hệ thống xử lý kịp thời những vấn đề xảy ra khi giao hàng. Hiện nay các doanh nghiệp có hệ thống, song chưa nhiều hệ thống xử lý kịp thời. Doanh nghiệp cũng cần tìm kiếm những giải pháp công nghệ để cải thiện việc này.

“Công nghệ là xu hướng không thể cưỡng lại của logistics, nhất là khâu hậu cần”- bà Yến khẳng định.

Về phương hướng hoạt động của doanh nghiệp

Theo ông Nguyễn Tấn Phong, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam, tỷ lệ doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào thương mại điện tử tương đối cao. Vì vậy, để cạnh tranh được, có một số điểm doanh nghiệp cần cố gắng vượt qua.

Thứ nhất, doanh nghiệp cần ngày càng hoàn thiện sản phẩm. Các sản phẩm thương mại điện tử ngày càng phong phú, mẫu mã đa dạng. Vì vậy doanh nghiệp nên tập trung nâng cao chất lượng mẫu mã, hình thức, đặc biệt chú ý đến vấn đề pháp lý, chất lượng nền tảng thương mại điện tử.

Thứ hai, các doanh nghiệp cần xác định khách hàng, thị trường tiềm năng. Trong thị trường rộng lớn, các doanh nghiệp cần lựa chọn thị trường ngách, sau đó lựa chọn những sản phẩm kinh doanh phù hợp. Như sản phẩm OCOP thì sẽ bán ở sàn nào, thị trường như thế nào.

Thứ ba, các doanh nghiệp cần tập trung vào trải nghiệm khách hàng, thỏa mãn nhu cầu sử dụng của người dùng, giúp người dùng cảm thấy gắn bó với doanh nghiệp. Đồng thời, các doanh nghiệp tham gia vào thương mại điện tử cần phải ngày càng có trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững. Thêm vào đó, doanh nghiệp cũng cần theo sát xu hướng của thương mại điện tử, như livestream… để có những chiến lược kinh doanh phù hợp.

Qua hội thảo, ông Nguyễn Thế Quang, Phó Cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, Bộ Công Thương, nhận định thương mại điện tử là cơ hội để thúc đẩy nền kinh tế số, là môi trường thuận lợi cho việc ứng dụng các mô hình kinh doanh.

Sự phát triển song song giữa thương mại truyền thống và thương mại điện tử, các vấn đề trong giao dịch thương mại điện tử phát sinh cũng là bài toán được đặt ra với cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý và bảo vệ người tiêu dùng.

Với việc hoàn thiện những sửa đổi trong Nghị định 52/NĐ-CP cũng như các nhóm giải pháp trong hệ sinh thái “Phát triển nền tảng tín nhiệm thương mại điện tử” ở Việt Nam sẽ góp phần xây dựng một thị trường trực tuyến lành mạnh, bền vững tạo dựng lòng tin đối với người tiêu dùng, hỗ trợ các doanh nghiệp và mang đến những phát triển vượt bậc cho bức tranh thương mại điện tử ở Việt Nam.

Sự phát triển của thương mại điện tử đã và đang tạo ra những thách thức không nhỏ cho việc xây dựng một thị trường trực tuyến lành mạnh ở Việt Nam.

Dựa trên mục tiêu đã đề ra trong Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2021-2025, một thị trường thương mại điện tử an toàn, lành mạnh là điều hoàn toàn có thể thực hiện khi có sự vào cuộc đồng bộ của Chính phủ, các Bộ ngành Trung ương, địa phương và những doanh nghiệp đã, đang và sẽ tham gia vào thị trường trực tuyến.

Theo https://theleader.vn/xu-huong-phat-trien-ben-vung-nganh-thuong-mai-dien-tu-1671559800484.htm

Doanh số thương mại điện tử của Đông Nam Á đạt 166 tỷ đô la vào năm 2026

Doanh số thương mại điện tử ở Đông Nam Á dự kiến ​​sẽ đạt 166 tỷ USD vào năm 2026, sau khi tăng hơn 30% vào năm 2021, theo Euromonitor International.

Doanh thu trong lĩnh vực thương mại điện tử đạt 69 tỷ đô la vào năm ngoái, tăng từ 52 tỷ đô la vào năm 2020. Năm 2019, doanh số thương mại điện tử ở Đông Nam Á vào khoảng 34 tỷ đô la.

Sea Limited, chủ sở hữu của nền tảng thương mại điện tử Shopee, là nhà bán lẻ hàng đầu trong khu vực với doanh thu 16,06 tỷ USD vào năm 2021.

Euromonitor cho biết khu vực này là “mục tiêu sinh lợi cho những người chơi thương mại điện tử”, Đông Nam Á, nơi có hơn 500 triệu người gồm các dân tộc, văn hóa, tôn giáo và thói quen mua sắm trực tuyến đa dạng.

Ảnh Pixabay (Pexels).

“Việc chinh phục thị trường này rất phức tạp. Các công ty thương mại điện tử trong khu vực phải tạo ra các chiến lược bản địa hóa như tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho các quốc gia và ngôn ngữ tương ứng hoặc các dòng sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu văn hóa khác nhau, ” theo báo cáo 100 Nhà bán lẻ hàng đầu ở châu Á.

“Giá cả, tiếp thị và dịch vụ khách hàng cũng cần phản ánh các động lực thị trường riêng lẻ. Khi các phương pháp tiếp cận được bản địa hóa được thực hiện tốt sẽ mang lại cho các nhà bán lẻ và nhà sản xuất một lợi thế cạnh tranh lâu dài và ổn định”.

Theo https://thuonggiathitruong.vn/doanh-so-thuong-mai-dien-tu-cua-dong-nam-a-dat-166-ty-do-la-vao-nam-2026/

Ai sẽ dẫn dắt cuộc chơi thương mại điện tử ở Việt Nam trong giai đoạn tới

Như ở kỳ trước chúng  tôi đã đưa tin, Báo cáo Chỉ số Thương mại điện tử (EBI) năm 2022 do Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM) mới công bố đáng chú ý là nổi lên xu hướng mới là sự xuất hiện và phát triển của các nền tảng hỗ trợ mua bán trong cộng đồng. Tuy nhiên phía sau sự đơn giản và hiệu quả của xu hướng bán lẻ mới, thậm chí có thể là cuộc cách mạng bán lẻ online, theo mô hình mua bán trong cộng đồng là cả hệ sinh thái kinh doanh số to lớn và phức tạp.

Ai hơn ai

Theo EBI, bề nổi của hoạt động mua bán này hoàn toàn diễn ra trên mạng xã hội. Phía sau là các nền tảng cung cấp giải pháp bán hàng đa kênh (Omnichannel Solution Platforms), các nền tảng kết nối người bán với nhà cung cấp sản phẩm, chuyển phát, thanh toán  tiếp thị số (Dropshipping Platforms).

Trước hết, những mạng xã hội hàng đầu hiện nay hỗ trợ mua bán theo mô hình này đều của nước ngoài, bao gồm Facebook, Youtube, TikTok. Rõ ràng, về phương diện cá nhân, hoạt động kinh doanh của người bán quá phụ thuộc vào các mạng xã hội nước ngoài luôn luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Những rủi ro này còn lớn hơn nữa nếu xét trên phương diện quốc gia.

Nhưng để các mạng xã hội trong nước chiếm ưu thế là nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Bên cạnh nhiều yếu tố khác, một mạng xã hội thành công chắc chắn cần những khoản đầu tư đáng kể. Tới nay, một số công ty công nghệ thông tin hàng đầu Việt Nam như VNG (Zalo), Viettel Telecom (Mocha), VCCorp (Lotus) đã xây dựng các mạng xã hội của mình.

Phần lớn nền tảng thương mại điện tử hàng đầu đang hoạt động ở Việt Nam là của các doanh nghiệp nước ngoài cung cấp qua biên giới

Một số doanh nghiệp khởi nghiệp (Startups) cũng năng động xây dựng mạng xã hội.  Trong đó, mạng xã hội Zalo của VNG được khá đông người dùng sử dụng như công cụ hữu ích để bán hàng trực tuyến.

Mặc dù kỳ vọng Việt Nam có mạng xã hội riêng được sử dụng phổ biến còn khá xa vời, nhưng nếu có sự đầu tư thoả đáng của doanh nghiệp, mạng xã hội của Việt Nam có thể có chỗ đứng vững chắc trong các thị trường ngách cũng như trong cuộc cách mạng bán lẻ mới.

Trong khi việc nhà nước trực tiếp đầu tư và vận hành một mạng xã hội là không khả thi thì câu hỏi đặt ra với các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt xây dựng mạng xã hội là họ có thể tìm kiếm vốn đầu tư từ đâu để mạng xã hội của họ vừa thu hút được đông đảo người dùng vừa thực sự là “của Việt Nam”.

Tính chung trong năm 2021 các doanh nghiệp khởi nghiệp đã thu hút được trên 1,3 tỷ USD vốn đầu tư, cao hơn số vốn của hai năm trước

Thứ hai, tới nay phần lớn các nền tảng hỗ trợ bán hàng đa kênh hay nền tảng kết nối người bán với nhà cung cấp do các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam xây dựng và vận hành.

Muốn trở thành những nền tảng lớn hơn và có chỗ đứng vững chắc trên thị trường các nhà sáng lập cần thu hút vốn đầu tư lớn. Với xu hướng đầu tư vào các doanh nghiệp khởi nghiệp liên quan tới thương mại điện tử cho tới nay, có thể dự đoán nguồn vốn chủ yếu sẽ từ các nhà đầu tư nước ngoài.

Thứ ba, những nền tảng trên hay các nền tảng mạng xã hội chỉ là một phần của hệ sinh thái các nền tảng cho thương mại điện tử.  Các nền tảng này có thể phát triển thành những mô hình kinh doanh quy mô lớn mang lại lợi nhuận cao, đồng thời cần nhiều vốn đầu tư.

Ai đầu tư

Tính chung trong năm 2021 các doanh nghiệp khởi nghiệp đã thu hút được trên 1,3 tỷ USD vốn đầu tư, cao hơn số vốn của hai năm trước. Đã có 208 quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tư vào các doanh nghiệp khởi nghiệp, với gần 40 quỹ đầu tư trong nước. Những lĩnh vực hấp dẫn nhất là công nghệ tài chính (Fintech), bán lẻ trực tuyến (Online Retail), công nghệ giáo dục (Edtech), công nghệ y tế (Medtech).

Đặc điểm chung của việc đầu tư vào các nền tảng này là rủi ro cao. Cho tới nay và có thể nhiều năm tới phần lớn vốn đầu tư vào các doanh nghiệp khởi nghiệp xây dựng nền tảng thương mại điện tử là từ nước ngoài.

Như vậy, phần lớn nền tảng thương mại điện tử hàng đầu đang hoạt động ở Việt Nam  là của các doanh nghiệp nước ngoài cung cấp qua biên giới như Facebook, Google, TikTok, Agoda, hoặc là của doanh nghiệp nước ngoài đầu tư trực tiếp như Shoppee, Lazada, Grab, Traveloka, hoặc do doanh nghiệp Việt Nam xây dựng và vận hành nhưng tỷ lệ vốn góp của nước ngoài tương đối cao như Tiki, Sendo, Momo, VNPay.

Muốn thương mại điện tử phát triển nhanh hơn nhất thiết phải thu hút nhiều hơn vốn đầu tư vào các nền tảng thương mại điện tử. Vấn đề đặt ra là ai sẽ dẫn dắt cuộc chơi này trong giai đoạn tới và những tác động của nó tới thương mại điện tử và kinh tế số của đất nước.

Thứ tư, trong khi các nguồn vốn đầu tư trong nước cho thương mại điện tử còn khan hiếm thì trong một số trường hợp việc sử dụng chúng lại chưa hiệu quả.

Chẳng hạn, trong những năm qua một số địa phương đã quan tâm tới thương mại điện tử và giao cho cơ quan quản lý nhà nước liên quan xây dựng các sàn giao dịch thương mại điện tử. Kinh phí xây dựng và vận hành những sàn này chủ yếu tới từ ngân sách nhà nước.

Tới năm 2022 phần lớn những sàn thương mại điện tử do các địa phương xây dựng và vận hành đều hoạt động không hiệu quả, số giao dịch thấp, sản phẩm nghèo nàn, công nghệ lạc hậu, thông tin sản phẩm ít được cập nhật, thiếu các dịch vụ hỗ trợ như tiếp thị, thanh toán, hoàn tất đơn hàng, v.v…

Đánh giá về Sàn thương mại điện tử do các địa phương xây dựng, vẫn theo EBI, có thể thấy các sàn này cơ bản mới dừng ở mức trang web cung cấp thông tin thương nhân và sản phẩm. Điểm sáng tới nay là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh,  hai địa phương dẫn đầu về thương mại điện tử, đã nói không với việc vận hành sàn thương mại điện tử của địa phương mình.

Nếu như một thập kỷ trước việc xây dựng sàn thương mại điện tử cho mỗi địa phương có thể có một số tác động tích cực thì tới nay các bên liên quan, bao gồm VECOM, nên rà soát, đánh giá lại việc duy trì hoạt động của các sàn này và đưa ra khuyến nghị để các địa phương sử dụng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước cho thương mại điện tử hiệu quả hơn.


Việc sử dụng tên miền của các sàn thương mại điện tử địa phương

Khảo sát của VECOM cho thấy tới tháng 3 năm 2022 có 44 địa phương trong số 63 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương đã xây dựng và vận hành sàn thương mại điện tử. Phần lớn các địa phương giao cho Sở Công Thương là đơn vị chủ quản.

Điểm nổi bật là có đến 75% các sàn TMĐT đều sử dụng tên miền quốc gia .VN, 25% còn lại sử dụng tên miền quốc tế. Tên miền .VN vượt trội do các sàn TMĐT địa phương đều hướng đến khách hàng trong nước, sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt cho nên tên miền quốc gia là sự lựa chọn phù hợp nhất. Mặt khác, do đặc thù ưu tiên về khu vực địa lý của các công cụ tìm kiếm (Google, Bing…) nên các website đăng ký tên miền .VN có lợi thế về SEO, bởi vậy mang đến giá trị tìm kiếm cao hơn khi người dùng có địa chỉ IP trong nước.

Tên miền .VN với giá trị nhận diện, tin cậy, an toàn như một con tem bảo hành cho doanh nghiệp, bởi tính hợp pháp, xác thực của chủ thể được quản lý, nhận diện bởi cơ quan quản lý tên miền quốc gia Việt Nam (VNNIC).

Năm 2021 nhu cầu dịch chuyển sang môi trường kinh doanh trực tuyến tăng mạnh. VNNIC cùng hệ thống nhà đăng ký tên miền .VN đã triển khai chương trình chuyển đổi mô hình kinh doanh trực tuyến với các dịch vụ số sử dụng tên miền .

VN tại nhiều địa phương như Đồng Tháp, Vĩnh Long, Thái Nguyên, Hậu Giang, Lâm Đồng. Các doanh nghiệp, hộ kinh doanh tham gia chương trình đều được tư vấn để xây dựng mô hình kinh doanh trực tuyến phù hợp với website tên miền .VN.

Nguồn: VNNIC và VECOM

Các sàn TMĐT khắc phục điểm yếu của năm 2021 ra sao?

Không chỉ là “chất xúc tác” thúc đẩy thói quen mua sắm online, Covid-19 còn chỉ ra những vướng mắc trong hoạt động logistics và chất lượng hàng hóa trên sàn TMĐT.

Hai năm trở lại đây, sự xuất hiện của Covid-19 đã thay đổi hoàn toàn thói quen tiêu dùng của người Việt. Thay vì mua sắm, thanh toán trực tiếp, tình hình dịch bệnh phức tạp và các yêu cầu hạn chế đi lại khiến người dùng tìm đến sàn TMĐT nhiều hơn.

Dữ liệu từ iPrice cho thấy tính riêng trong quý III/2021 (đợt bùng phát Covid-19 thứ 4), thị trường TMĐT Việt Nam có tổng lượt truy cập trung bình nhóm 10 trang TMĐT cao gấp 2 lần Thái Lan và gấp 3 lần Malaysia.

Tuy vậy, đại dịch cũng đặt ra câu hỏi về khả năng duy trì hoạt động logistics một cách liền mạch của các sàn TMĐT. Từ tháng 6-8/2021, tình trạng nhiều địa phương khu vực phía Nam thực hiện giãn cách xã hội khiến việc hàng hóa mắc kẹt, không thể thông suốt đã diễn ra tương đối phổ biến.

Diem yeu cua san TMDT anh 1

Hàng hóa bị ùn ứ khi cả nước siết chặt chính sách chống dịch trong đợt bùng phát thứ 4. Ảnh minh họa: Chí Hùng.

Tập trung logistics nội bộ

Chia sẻ với Zing, hầu hết sàn TMĐT hàng đầu tại thị trường Việt Nam đều ghi nhận thực trạng này trong năm ngoái. Để khắc phục, các sàn đang có xu hướng phát triển hoạt động logistics nội bộ song song việc hợp tác với các doanh nghiệp vận chuyển bên thứ 3.

Đại diện Tiki đánh giá logistics là xương sống của ngành TMĐT. Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang mở cửa và hội nhập với khối lượng hàng hóa luân chuyển không ngừng tăng lên, các công ty logistics buộc phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu mới.

Trên thực tế, sàn này cho biết luôn dành ra ngân sách đầu tư rất lớn cho logistics mỗi năm và sẽ tiếp tục phát triển cơ sở hạ tầng trong năm nay. Tháng 7/2021, Tiki bắt đầu ứng dụng robot vào quy trình kho vận, đẩy năng suất lấy hàng lên gấp 2 lần.

Bên cạnh việc tập trung tăng cường đội ngũ giao vận riêng kết hợp với các đơn vị vận tải chiến lược, Tiki dự kiến mở rộng thêm chuỗi kho mini tích hợp kho lạnh (dark store) với mục tiêu đẩy mạnh giao hàng siêu tốc 30 phút.

Tương tự, theo Shopee, khi người dùng dần chuyển sang các nền tảng TMĐT để phục vụ nhu cầu mua sắm, các doanh nghiệp và các nhà bán hàng cần phải tận dụng tối đa công nghệ nhằm đảm bảo hàng hóa đến tay người dùng nhanh và tiết kiệm chi phí nhất.

Từ năm 2020, Shopee đã cho ra mắt mảng giao hàng nội bộ Shopee Express nhằm hỗ trợ người dùng và nhà bán hàng, đặc biệt trong giai đoạn cao điểm mua sắm. Ngoài ra, sàn còn sở hữu mạng lưới đối tác vận chuyển đa dạng.

Theo báo cáo của Hiệp hội Thương mại điện tử (VECOM), sản lượng bưu gửi qua dịch vụ chuyển phát trong năm 2020 đã tăng 47%. Các doanh nghiệp chuyển phát hàng đầu đều có mức tăng trưởng bưu gửi 30-60%.

Người dùng tăng, lượng truy cập tăng, đơn hàng tăng đồng nghĩa áp lực đối với hoạt động hậu cần cũng nặng nề hơn. Do đó, sự thông suốt của logistics cũng được xem như một yếu tố có đóng góp quan trọng tới quá trình phát triển của các sàn TMĐT.

Diem yeu cua san TMDT anh 2

Các sàn TMĐT chọn cách tự chủ hoạt động logistics song song việc phối hợp với đối tác dịch vụ bên thứ 3.

Đối thủ của hai sàn trên là Lazada tin rằng logistics nội bộ cho phép sàn kiểm soát hàng tồn kho, lựa chọn loại hình vận tải, linh hoạt trong quản lý và đảm bảo nhu cầu của khách hàng. Hiện tại, đơn vị logistics nội bộ của Lazada đã có thể chủ động giao phần lớn khối lượng đơn hàng của nền tảng và rút ngắn thời gian giao hàng.

Sàn cũng triển khai nhiều dự án ứng dụng công nghệ cho phép quản lý mạng lưới, dữ liệu, phân bổ và kiểm soát các tuyến vận chuyển, chi phí.

Đến cuối năm 2021, Lazada sở hữu hơn 400 cơ sở kho bãi, trung tâm phân loại và hợp tác với 80 doanh nghiệp hậu cần. Tổng diện tích mặt bằng các trung tâm hậu cần chiếm hơn 300.000 m2, có khả năng giao nhận hơn 80% tổng số đơn hàng trên nền tảng.

Hàng giả hàng nhái vẫn lộng hành

Số liệu của Bộ Công Thương cho biết tính riêng năm 2021, lực lượng quản lý thị trường phối hợp với Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số đã phát hiện hơn 3.000 trường hợp kinh doanh hàng hóa nhập lậu, không rõ nguồn gốc, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ thông qua TMĐT.

Dự kiến trong vòng 2-3 năm tới, tỷ lệ gian lận trên TMĐT có thể chiếm 50-60% tổng hình thức gian lận thương mại.

Sự cộng hưởng của Covid-19 và quá trình chuyển đổi số trong nước đã thúc đẩy hoạt động của các sàn TMĐT. Tuy nhiên cũng phát sinh ra những hoạt động gian lận thương mại, đặc biệt là sự tràn lan của hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng.

Theo TS Võ Trí Thành – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh – ngoài làm xấu môi trường kinh doanh, méo mó sự cạnh tranh, hình ảnh doanh nghiệp, đất nước, thui chột tính hấp dẫn, sức sáng tạo và tổn hại cho người dùng, hàng giả, hàng nhái còn xói mòn nguồn thu thuế.

Thực tế, các sàn đều có biện pháp kiểm soát tình trạng này trên nền tảng. Song nạn hàng hóa kém chất lượng vẫn xuất hiện tương đối phổ biến trên một số sàn TMĐT.

Nhằm bảo vệ quyền lợi người dùng, Shopee áp dụng chính sách “Shopee đảm bảo” (các đơn hàng chỉ được thanh toán cho người bán sau khi người mua xác nhận đơn hàng được giao có trạng thái tốt) hay chính sách trả hàng và hoàn tiền nếu có vấn đề phát sinh.

Diem yeu cua san TMDT anh 3

Hàng giả, hàng nhái vẫn có chỗ trú chân trên một số sàn TMĐT. Ảnh: QLTT.

Ngoài ra, sàn cũng trang bị chức năng báo cáo nếu người dùng nhận thấy sản phẩm/dịch vụ hoặc người bán hàng có dấu hiệu vi phạm. Đồng thời, Shopee khuyến khích người dùng mua sắm hàng hóa trên gian hàng chính hãng Shopee Mall.

Đối với Lazada, sàn yêu cầu tất cả người bán cam kết tuân thủ theo luật pháp và quy định của địa phương. Đáng chú ý, tất cả nhà bán hàng mới phải hoàn thành khóa học hướng dẫn, nâng cao nhận thức về điều khoản cũng như chính sách liên quan đến sở hữu trí tuệ.

“Chúng tôi phối hợp chặt chẽ với các thương hiệu đối tác, người bán và cơ quan quản lý để xác định, loại trừ các trường hợp kinh doanh hàng giả, hàng nhái. Chúng tôi cũng có các hướng dẫn rõ ràng cho khách hàng và cung cấp số điện thoại đường dây nóng để thông báo bất kỳ vấn đề có liên quan, bao gồm hàng giả, hàng nhái”, Lazada chia sẻ.

Trong khi đó, Tiki cho biết người bán cần định danh gian hàng, cung cấp đầy đủ các chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa trước khi được phép đăng bán sản phẩm. Sàn cũng có hệ thống và các bộ phận chuyên môn để kiểm duyệt chất lượng sản phẩm đầu vào.

Bên cạnh hệ thống quét tự động và phát hiện các sản phẩm nghi ngờ giả mạo, Tiki đồng thời triển khai các chương trình bảo hộ thương hiệu nhằm khuyến khích người bán nâng cao khả năng tự bảo vệ.

Đối với hàng hóa có thương hiệu, Tiki phối hợp với nhãn hàng, nắm danh sách đơn vị được phép phân phối sản phẩm và tiếp nhận các báo cáo để rà soát, loại bỏ các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ không rõ ràng hoặc chứng từ không hợp lệ.

Theo https://zingnews.vn/cac-san-tmdt-khac-phuc-diem-yeu-cua-nam-2021-ra-sao-post1323468.html

preloader