Category Archives: Kinh tế số

Chứng khoán Việt Nam có xác suất tăng vượt trội trong những ngày giáp Tết Nguyên Đán

“Con số thường không biết nói dối”. Thống kê trong lịch sử hơn 22 năm đã qua, chỉ số VN-Index có tới 16 lần tăng điểm trong 1 tuần giao dịch trước Tết.

Chỉ còn vài phiên giao dịch nữa thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức nghỉ Tết Nguyên đán Quý Mão 2023. Nhắc đến Tết Nguyên Đán, nhà đầu tư thường có tâm lý lo ngại khi tâm lý nghỉ lễ thường khiến thanh khoản sụt giảm, nhà đầu tư có xu hướng rút tiền trong tài khoản để phục vụ cho các hoạt động sắm Tết và phòng tránh rủi ro từ thị trường quốc tế hay dịch bệnh.

Chứng khoán Việt Nam có xác suất tăng vượt trội trong những ngày giáp Tết Nguyên Đán

Tuy nhiên, “con số thường không biết nói dối”. Thống kê trong lịch sử hơn 22 năm đã qua, chỉ số VN-Index có tới 16 lần tăng điểm trong vòng 5 phiên trước Tết, thậm chí mức tăng còn rất tích cực so với những lần ít ỏi giảm điểm.

Chứng khoán Việt Nam có xác suất tăng vượt trội trong những ngày giáp Tết Nguyên Đán - Ảnh 1.

Có thể thấy chứng khoán Việt Nam thường khá hưng phấn trước khi đóng cửa “ăn Tết Âm”. Hầu hết mức tăng đều ghi nhận trên 2%. Thậm chí trong năm 2008, VN-Index bứt phá đầy mạnh mẽ với đà tăng xấp xỉ 11% chỉ trong 5 phiên, năm 2001 cũng ghi nhận tăng gần 9%. Gần hơn, liên tiếp trong 6 năm gần nhất thì tới 5 năm chỉ số chính của TTCK Việt Nam diễn biến khởi sắc vào tuần sát Tết, riêng năm 2019 VN-Index gần như đi ngang với mức giảm chỉ 0,02%.

Dù thống kê chỉ mang tính chất tham khảo nhưng việc quá khứ ghi nhận tích cực cũng giúp nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam có thêm niềm tin, đặc biệt có thể tận dụng khoảng thời gian quý giá này để duy trì chiến lược, giữ những cổ phiếu kỳ vọng còn dư địa tăng thậm chí mua vào những mã tiềm năng.

Thêm nữa, mặc dù có quãng hồi phục tích cực từ giữa tháng 11/2022 tới nay song định giá chứng khoán Việt Nam vẫn đang ở vùng tương đối thấp so với quá khứ, P/E của VN-Index hiện đạt 11,02 lần, tương đương với các đợt khủng hoảng trong quá khứ và thấp thấp hơn rất nhiều so với mức P/E trung bình 5 năm là 15,x lần. Điều này được kỳ vọng sẽ kích thích dòng tiền đầu tư dài hạn giải ngân quyết liệt hơn trong năm 2023, qua đó tạo động lực phục hồi cho thị trường.

Chứng khoán Việt Nam có xác suất tăng vượt trội trong những ngày giáp Tết Nguyên Đán - Ảnh 2.

Theo Chứng khoán DSC, bối cảnh thị trường chứng khoán năm 2023 sẽ tích cực hơn so với diễn biến của năm trước. M ức giảm quá đà cuối năm 2022 đã tạo ra một mặt bằng giá đủ hấp dẫn và thu hẹp dư địa giảm. DSC nhấn mạnh thị trường chứng khoán luôn đi trước nền kinh tế. Do đó với quan điểm nền kinh tế sẽ cải thiện dần về cuối năm, DSC dự báo thị trường chứng khoán có thể bắt đầu một chu kỳ mới trước khi nền kinh tế thực sự chạm đáy. Khả năng trong năm 2023, khi những thông tin xấu về nền kinh tế dần được hé lộ và kèm theo chính sách tiền tệ có xu hướng đảo chiều, đáy chứng khoán 2023 sẽ được xác nhận.

Đồng quan điểm, Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) thống kê cho thấy, định giá P/E của thị trường chỉ giảm về mức 9.x – 11.x lần trong những giai đoạn vĩ mô đối diện thử thách và việc mua và nắm giữ cổ phiếu khi P/E thị trường ở mức 9.x – 11.x sẽ mang lại hiệu suất đầu tư cao vượt trội so với lãi suất tiết kiệm nếu nắm giữ khoản đầu tư trong hai năm. Do vậy, bên cạnh việc phân bổ vốn vào kênh tiết kiệm, nhà đầu tư dài hạn có thể cân nhắc giải ngân ở những cổ phiếu tốt thuộc các nhóm ngành hưởng lợi lớn trong xu hướng tích cực trong dài hạn của vĩ mô Việt Nam.

VDSC không kỳ vọng một con sóng tăng lớn hay một sự điều chỉnh cực mạnh sẽ diễn ra trong năm 2023. Thay vào đó là những đợt sóng nhỏ, mà trong đó, những nhịp đi xuống sẽ mang lại cơ hội tích lũy cổ phiếu với mức giá tốt cho nhà đầu tư.

Theo https://markettimes.vn/chung-khoan-viet-nam-co-xac-suat-tang-vuot-troi-trong-nhung-ngay-giap-tet-nguyen-dan-13775.html

Khả năng suy thoái kinh tế thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam

Cân nhắc khả năng suy thoái kinh tế ở nước này có thể dẫn đến suy thoái kinh tế ở nước khác và để cẩn trọng, TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV đánh giá khả năng kinh tế thế giới suy thoái năm 2023 là cao hơn 50%.

LTS: TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV vừa công bố báo cáo phân tích về “Khả năng suy thoái kinh tế thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam”. Chúng tôi xin đăng tải nguyên văn báo cáo để quý độc giả tiện theo dõi.

KHẢ NĂNG SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI

Về suy thoái kinh tế thế giới từ trước đến nay

Năm 2023, tăng trưởng GDP thế giới được nhiều tổ chức dự báo giảm so với năm 2022, trong đó một số nền kinh tế dự báo sẽ suy thoái. Tổ chức OECD (tháng 11/2022) dự báo tăng trưởng GDP thế giới sẽ giảm từ 3,1% năm 2022 xuống 2,2% năm 2023; trong đó, tăng trưởng kinh tế Mỹ giảm từ 1,8% năm 2022 xuống 0,5% năm 2023; khu vực Euro từ 3,3% xuống 0,5%, trong khi kinh tế Trung Quốc tăng từ 3,3% lên 4,6%. Lạm phát toàn cầu cũng được dự báo giảm với CPI toàn cầu từ mức tăng 8,8% năm 2022 xuống khoảng 6,5% năm 2023 và 4% năm 2024. Tuy nhiên, các ý kiến rất khác nhau về khả năng kinh tế thế giới có giảm đến mức suy thoái hay không, và nếu suy thoái thì quy mô, thời điểm và thời gian kéo dài như thế nào. Sự không đồng thuận về suy thoái kinh tế thế giới trước hết do không có một quy luật chung cho các lần suy thoái từ trước đến nay, rất khác nhau về tính chất, thời gian và cũng rất khác nhau giữa các nước.

Tuy nhiên, có thể rút ra bốn nhận định chung về suy thoái kinh tế thế giới thời gian qua như sau: (i) thời gian trung bình các lần suy thoái có xu hướng ngắn lại (nếu tính từ năm 1885, suy thoái kéo dài trung bình 17 tháng, nhưng nếu tính từ Thế chiến II, suy thoái chỉ kéo dài trung bình khoảng 10 tháng). Tuy nhiên, thời gian các lần suy thoái rất khác nhau, ngắn nhất có thể là 3 tháng và dài nhất lên đến 43 tháng (Đại khủng hoảng 1930-1933); (ii) Mỹ có mặt trong tất cả các lần thế giới suy thoái (do đó, suy thoái kinh tế Mỹ thường được hiểu là có thể dẫn đến suy thoái kinh tế thế giới); (ii) nguyên nhân suy thoái không giống nhau (có thể do cú sốc cắt giảm sản lượng dầu, đại dịch Covid-19, hoặc bắt nguồn từ khủng hoảng tài chính năm 2008-2009…); (iv) các chỉ số về hoạt động kinh tế có xu hướng chậm lại trong 1,5-2 năm trước khi xảy ra suy thoái toàn cầu.

Đánh giá khả năng suy thoái kinh tế thế giới trong năm 2023

Nhóm nghiên cứu đánh giá khả năng suy thoái kinh tế thế giới thông qua đánh giá khả năng suy thoái đối với một số nền kinh tế lớn, bao gồm: Mỹ (chiếm 21,3% GDP thế giới 2022), khu vực EUR (11,9% GDP thế giới), Anh (2,7% GDP thế giới), Nhật Bản (3,7% GDP thế giới) và Trung Quốc (17,2% GDP thế giới). Do chiếm tỷ trọng lớn (gần 57%) trong GDP thế giới, biến động của các nền kinh tế này thường gắn liền với biến động kinh tế thế giới (Hình 1).

Nhóm nghiên cứu định nghĩa suy thoái như sau: (i) đối với kinh tế thế giới là khi tăng trưởng GDP cả năm dưới 1% (đây cũng là định nghĩa của WB), theo đó gần đây thế giới đã hai lần suy thoái kinh tế vào năm 2008-2009 và năm 2020; (ii) đối với các nước phát triển (Mỹ, khu vực EUR, Anh và Nhật Bản) là khi tăng trưởng GDP cả năm âm; và (iii) với Trung Quốc là khi tăng trưởng GDP cả năm thấp hơn đáng kể xu thế dài hạn.

Việc đánh giá khả năng suy thoái của từng nền kinh tế sẽ dựa trên một số chỉ số kinh tế và tài chính. TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV quan sát thấy các chỉ số này thường giảm thấp (hoặc tăng cao tùy theo chỉ số) trước và trong khi suy thoái xảy ra. Để đảm bảo thống nhất và khách quan trong đánh giá, một chỉ số sẽ chỉ báo suy thoái khi giảm thấp (hoặc tăng cao) đến ngưỡng nhất định, ngưỡng này xác định bằng tiêu chuẩn thống kê mà do giới hạn bài viết Nhóm chuyên gia không thể nêu chi tiết.

Khả năng suy thoái kinh tế thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam - Ảnh 1.

Các chỉ số về hoạt động kinh tế:

(1) Thị trường lao động: ngoại trừ Trung Quốc đang có tỷ lệ thất nghiệp ở mức trung bình, các nước đều đang có tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp (Hình 2). Như vậy, tỷ lệ thất nghiệp chưa chỉ báo suy thoái kinh tế đối với nước nào; thậm chí đang chỉ báo là tăng trưởng kinh tế đối với Mỹ, khu vực EUR, Anh và Nhật Bản với tỷ lệ đang ở mức thấp so với trung bình dài hạn. Tuy nhiên, cũng có điểm cần lưu ý là thị trường lao động thay đổi đáng kể (ra vào nhanh hơn) nên số liệu này cũng không phản ánh chính xác hoàn toàn.

Khả năng suy thoái kinh tế thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam - Ảnh 2.

(2) Sản xuất công nghiệp (SXCN): ngoại trừ Trung Quốc đang có tốc độ tăng SXCN ở mức thấp (tính đến tháng 11/2022 là 4,2%, thấp hơn đáng kể mức trung bình dài hạn là 10%), các nước đều đang có tốc độ tăng SXCN ở mức trung bình. Chẳng hạn như Mỹ, tốc độ tăng sản xuất công nghiệp tính đến tháng 11/2022 là 2,5%, so với mức trung bình dài hạn là khoảng 1%.  Như vậy, SXCN đang chỉ báo suy thoái kinh tế nhẹ đối với Trung Quốc (chủ yếu là do áp dụng chính sách zero-Covid), nhưng chưa chỉ báo suy thoái kinh tế đối với Mỹ, khu vực EUR, Anh và Nhật Bản.

(3) Niềm tin kinh doanh và tiêu dùng: Chỉ số niềm tin kinh doanh ở Mỹ, khu vực EUR và Trung Quốc mặc dù đang có xu hướng giảm đều đang ở mức trung bình dài hạn, chưa cho thấy nguy cơ suy thoái. Tuy nhiên, chỉ số niềm tin tiêu dùng đang ở mức thấp tại tất cả các nước hay khu vực, chỉ báo nguy cơ suy thoái (Hình 3).

Khả năng suy thoái kinh tế thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam - Ảnh 3.

 (4) Doanh số bán lẻ: ngoại trừ Mỹ và Nhật Bản đang có tốc độ tăng doanh số bán lẻ ở mức trung bình và trên mức trung bình, các nước, khu vực khác đều có doanh số bán lẻ liên tục giảm trong nhiều tháng. Như vậy, doanh số bán lẻ đang chỉ báo suy thoái kinh tế cho Anh, khu vực EUR và Trung Quốc.

(5) Thị trường bất động sản: trong năm 2008-2009 giá nhà tại Mỹ và Anh đã giảm mạnh, giảm khoảng 20%. Hiện nay giá nhà tại Mỹ (chỉ số Case Shiller) tính đến tháng 10/2022 vẫn tăng 8,6% và tại Anh (chỉ số Halifax) tính đến tháng 11/2022 vẫn tăng 4,7% so với cùng năm trước. Như vậy, thị trường bất động sản tại Anh và Mỹ chưa chỉ báo suy thoái, tuy nhiên cũng cho thấy rủi ro, nguy cơ “điều chỉnh giảm” trong ngắn hạn tại hai nước này như đang diễn ra tại một số quốc gia.

Các chỉ số về tài chính:

(6) Lợi suất trái phiếu Chính phủ (TPCP): Đường cong lợi suất TPCP chỉ báo suy thoái kinh tế khi lợi suất kì hạn ngắn cao hơn kì hạn dài (gọi là đường cong lợi suất đảo ngược). Cập nhật đến thời điểm bài viết này, chênh lệch lợi suất TPCP giữa kỳ hạn 10 năm và kỳ hạn 2 năm là âm 59,2 bp (điểm cơ bản) đối với Mỹ; dương 48 bp đối với khu vực EUR; dương 0,6 bp đối với Anh; dương 40,5 bp đối với Nhật Bản; và dương 51,2 bp đối với Trung Quốc. Như vậy, đường cong lợi suất TPCP đang chỉ báo suy thoái kinh tế đối Mỹ nhưng chưa chỉ báo suy thoái đối với nước/khu vực còn lại.

(7) Thị trường chứng khoán (TTCK): mặc dù các TTCK lớn có xu hướng giảm (từ 15-20%) kể từ đầu năm 2022 đến nay, nhưng một số chỉ số chính vẫn đang ở mức cao (Dow Jones và Nikkei) hoặc ít nhất đang ở mức trung bình (STOXX 50, FTSE 100 và Shanghai) (Hình 4). Đồng thời, chỉ số biến động TTCK Mỹ (VIX) cho thấy TTCK Mỹ mặc dù đang kém ổn định hơn giai đoạn trước dịch Covid-19 nhưng vẫn ổn định hơn nhiều so với thời điểm suy thoái 2008-2009 và 2020. Do đó, TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV đánh giá TTCK chưa chỉ báo suy thoái ở các nước, thậm chí vẫn còn tích cực đối với Mỹ và Nhật Bản.

Khả năng suy thoái kinh tế thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam - Ảnh 4.

Chỉ số tổng hợp:

Ngoài các chỉ số kinh tế và tài chính nêu trên, TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV tham khảo thêm chỉ số kinh tế dẫn báo (LEI) do The Conference Board công bố, như một chỉ số tổng hợp từ các chỉ số riêng lẻ. Chỉ số này chỉ báo suy thoái khi liên tục giảm trong 6 tháng. Căn cứ số liệu cập nhật đến thời điểm bài viết, chỉ số LEI đang chỉ báo (hoặc cảnh báo) suy thoái đối với Mỹ, Anh và khu vực EUR, bắt đầu đối với Trung Quốc (nếu không có điều chỉnh chính sách), nhưng chưa cảnh báo suy thoái đối Nhật Bản.

Đánh giá khái quát:

Bảng 1 dưới đây tổng hợp các chỉ báo nêu trên về triển vọng của từng nền kinh tế, trong đó các chỉ báo này có thể dự đoán kinh tế tăng trưởng (+) hoặc suy thoái (-) hoặc ở mức trung bình (o). Tính đến thời điểm hiện tại, các chỉ số kinh tế – tài chính nhìn chung vẫn đang tích cực, hoặc ít nhất là không quá tiêu cực, đối với các nước, khu vực. Tích cực nhất là về thị trường lao động với tỷ lệ thất nghiệp của các nước đang thấp hơn mức trung bình dài hạn. TTCK, thị trường bất động sản và niềm tin kinh doanh vẫn ở trạng thái khá tích cực (hoặc ở dạng đang điều chỉnh giảm do tăng khá nóng 2 năm qua). Trong khi đó, do lạm phát, giá sinh hoạt tăng cao ảnh hưởng đến thu nhập khả dụng của người dân, niềm tin tiêu dùng kém tích cực hơn so với niềm tin của nhà sản xuất và đầu tư. Mặc dù vậy, tình hình cụ thể của từng nền kinh tế không hoàn toàn giống nhau. Căn cứ số chỉ báo suy thoái so với số chỉ báo tăng trưởng và ý kiến chuyên gia, TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV đánh giá khả năng suy thoái với Mỹ là 50-60%, với khu vực EUR và Anh là 60-70%, và Trung Quốc, Nhật Bản thấp hơn 50%.

Khả năng suy thoái kinh tế thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam - Ảnh 5.

Cân nhắc khả năng suy thoái kinh tế ở nước này có thể dẫn đến suy thoái kinh tế ở nước khác và để cẩn trọng, TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV đánh giá khả năng kinh tế thế giới suy thoái năm 2023 cao hơn 50%. Thời điểm suy thoái nhiều khả năng là từ Quý 2/2023 do các chỉ số hoạt động kinh tế mới bắt đầu chậm lại từ đầu năm 2022. Như nêu trên, các chỉ số về hoạt động kinh tế chậm lại trung bình trong 1,5-2 năm trước suy thoái. Suy thoái lần này có thể kéo dài khoảng 1 năm, tức là đến hết Quý 1/2024.

Do suy thoái sẽ dẫn đến giảm tổng cầu và áp lực lạm phát sẽ dịu đi, khả năng kinh tế thế giới đình lạm (đình trệ đi với lạm phát cao) nếu có sẽ chủ yếu do xung đột Nga – Ukraine leo thang mà theo Nhóm chuyên gia là khả năng không cao (khả năng cao chỉ là bế tắc, kéo dài).

TÁC ĐỘNG CỦA SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

Năm 2023, Việt Nam được dự báo có tăng trưởng GDP giảm so với năm 2022 xuống còn khoảng 6-6,5%, do xuất khẩu, đầu tư, tiêu dùng và du lịch quốc tế phục hồi chậm lại trong bối cảnh kinh tế thế giới suy thoái nhẹ, cục bộ như nêu trên. Trong khi đó, lạm phát (CPI) bình quân dự báo tăng so với năm 2022 lên mức 4-4,5%, chủ yếu do tăng lương cơ sở và giá một số hàng hóa thiết yếu do Nhà nước quản lý (điện, dịch vụ y tế, giáo dục..), do độ trễ tác động của giá nhập khẩu mặc dù là giá cả, lạm phát toàn cầu đã qua đỉnh và đang tăng chậm lại trong năm 2023. Tuy nhiên, dự báo trên chưa tính đến đầy đủ tác động của suy thoái kinh tế thế giới có thể ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam trên những mặt sau:

(1) Đối với xuất khẩu: với suy thoái 2008-2009 trước đây, xuất khẩu (hàng hóa và dịch vụ) ròng của Việt Nam đã giảm mạnh trong 4 năm (2007-2010), trước khi khôi phục lại mức trước suy thoái (Hình 5). Năm 2022, xuất khẩu hàng hóa đã tăng chậm lại kể từ tháng 8 và cả năm tăng 10,6%, thấp hơn mức 18,9% của năm 2021. Do đó, nếu suy thoái kinh tế thế giới xảy ra trong năm 2023, tốc độ tăng xuất khẩu của Việt Nam sẽ thấp (khả năng chỉ khoảng 5-6%), ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP ít nhất là năm 2023 và cũng sẽ ảnh hưởng đến hệ thống tài chính, nhất là nợ xấu của hệ thống ngân hàng có thể gia tăng.

(2) Đối với đầu tư nước ngoài: với suy thoái 2008-2009, đầu tư trực tiếp và chuyển giao vãng lai (kiều hối) hầu như không bị ảnh hưởng, trong khi đầu tư gián tiếp giảm trong 2 năm (2008-2009) (Hình 5). Năm 2022, giải ngân FDI vẫn tăng 13,5% và đầu tư gián tiếp vẫn tương đương năm ngoái (theo NHNN 9 tháng/2022 là 0,4 tỷ USD; 9 tháng/2021 là 0,5 tỷ USD). Do đó, TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV dự đoán nếu suy thoái kinh tế thế giới xảy ra trong năm 2023, đầu tư trực tiếp và kiều hối sẽ chịu ảnh hưởng không đáng kể do nhà đầu tư nước ngoài vẫn lạc quan về triển vọng của nền kinh tế Việt Nam trong dài hạn; trong khi đầu tư gián tiếp có thể giảm trong ngắn hạn (năm 2023).

Khả năng suy thoái kinh tế thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam - Ảnh 6.

(3) Đối với cán cân thanh toán và tỷ giá: theo TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV, cán cân thanh toán thâm hụt ròng năm 2022 chủ yếu do FED tăng lãi suất đã ảnh hưởng đến chuyển giao vãng lai (như kiều hối), đầu tư khác trong cán cân tài chính và lỗi & sai sót (9 tháng đầu năm 2022 chuyển giao vãng lai thặng dư 3,8 tỷ USD, thấp hơn nhiều so với mức 8,3 tỷ USD cùng kỳ năm ngoái; đầu tư khác thâm hụt 2,7 tỷ USD so với thặng dư 13,2 tỷ USD và lỗi & sai sót âm 23,5 tỷ USD, cao hơn nhiều so với mức âm 4,2 tỷ USD cùng kỳ năm ngoái); trong khi đầu tư nước ngoài (cả gián tiếp lẫn trực tiếp), cán cân dịch vụ hầu như không bị ảnh hưởng và cán cân hàng hóa tăng. Kinh tế thế giới suy thoái mặc dù giúp cải thiện cán cân tài chính khi FED dừng tăng (thậm chí giảm) lãi suất (khiến cán cân vãng lai giảm nhiều hơn do xuất khẩu ròng giảm như nêu trên), nhưng sẽ ảnh hưởng đến cán cân thanh toán bị tiếp tục thâm hụt và VND có thể tiếp tục chịu sức ép mất giá trong năm 2023.

(4) Đối với lao động và năng suất lao động: với suy thoái 2008-2009 tỷ lệ thất nghiệp đã tăng cao trong hai năm 2008 và 2009, lên tương ứng là 6,65% và 4,66%. Năm 2022, lao động của các doanh nghiệp công nghiệp đã bắt đầu tăng chậm lại với 2 tháng cuối năm 2022 chỉ tăng 0,4% so với tháng trước, thấp hơn nhiều so với mức tăng bình quân trên 1% trong 10 tháng đầu năm 2022. Do đó, Nhóm chuyên gia dự đoán nếu suy thoái kinh tế thế giới xảy ra trong năm 2023, thất nghiệp sẽ tăng khi hoạt động xuất khẩu, sản xuất công nghiệp giảm. Thất nghiệp tăng trong ngắn hạn có thể ảnh hưởng đến năng suất lao động cũng như năng suất của nền kinh tế trong trung và dài hạn. Nguyên nhân là người lao động thất nghiệp lâu nên kỹ năng giảm sút, quan hệ sản xuất – kinh doanh đứt đoạn nên khó tìm việc khi sản xuất, kinh doanh trở lại. Theo tác giả Goldin (2021), suy thoái 2008-2009 đã khiến tốc độ tăng năng suất lao động trung bình năm giữa giai đoạn 1996-2005 và 2006-2017 giảm từ 1,85% xuống 0,91% đối với Đức, từ 1,68% xuống 0,85% đối với Nhật Bản, và từ 2,62% xuống 1% đối với Mỹ.

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Để đối phó với rủi ro suy thoái kinh tế thế giới trong năm 2023, cũng như tăng tính tự lực, tự cường, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế; TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV kiến nghị 5 nhóm giải pháp chính sách như sau.

Một là, tiếp tục bám sát, dự báo tình hình kinh tế, tài chính – tiền tệ quốc tế để có phương án ứng phó kịp thời; nâng cao hơn nữa hiệu quả phối hợp chính sách, nhất là giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, các cân đối lớn của nền kinh tế, hỗ trợ tăng trưởng. Theo đó, quan tâm đảm bảo 4 cân bằng: giữa kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng, giữa lãi suất và tỷ giá, giữa cân đối ngân sách và hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân.

Hai là, quyết liệt cải thiện thực chất môi trường đầu tư – kinh doanh, giảm thiểu thủ tục hành chính nhằm tận dụng cơ hội dịch chuyển chuỗi cung ứng, kiến tạo thúc đẩy đầu tư trong và ngoài nước, tăng năng suất và giảm chi phí sản xuất, kinh doanh. Định hướng, hỗ trợ doanh nghiệp đa dạng hóa các thị trường, đối tác xuất khẩu trong bối cảnh các thị trường chính tăng trưởng chậm lại hoặc suy thoái, tận dụng tốt hơn các FTAs đã ký kết.

Ba là, có đề án, giải pháp cụ thể để tháo gỡ 3 vướng mắc, khó khăn chính hiện nay của doanh nghiệp là pháp lý (nhất là trong các lĩnh vực đất đai, bất động sản, xây dựng, đấu thầu…), tiếp cận vốn (nhất là qua kênh trái phiếu doanh nghiệp và điều hành tín dụng hợp lý), lao động (nhất là đối với các lĩnh vực chịu tác động giảm mạnh đơn hàng như dệt may, da giày, điện tử, gỗ…).

Bốn là, xây dựng chiến lược, giải pháp cụ thể để tăng tính độc lập, tự chủ, tự cường và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế, của các ngành, lĩnh vực và doanh nghiệp Việt Nam, trong đó cần tập trung ưu tiên một số vấn đề như: chất lượng tăng trưởng (trong đó có năng suất lao động); đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế nhằm phân bổ, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn; phát triển cân bằng thị trường tài chính, quan tâm quản lý rủi ro hệ thống tài chính và rủi ro liên thông giữa tài chính – bất động sản; tăng mức độ tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, tăng nội lực, mức độ nội địa hóa các yếu tố đầu vào; xây dựng chiến lược an ninh năng lượng; khung phòng chống rủi ro, gồm cả kịch bản khi tình huống xấu xảy ra…v.v.

Năm là, đẩy nhanh hoàn thiện thể chế, bao gồm cả cơ chế, chính sách tháo gỡ vướng mắc cho những vấn đề hiện tại và xây dựng hành lang pháp lý (kể cả cơ chế thử nghiệm  – sandbox) phục vụ phát triển kinh tế số, mô hình kinh doanh mới, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, vừa là để bắt kịp xu thế, vừa là tận dụng cơ hội và góp phần vượt qua thách thức hiện nay và sắp tới.

Thực hiện báo cáo:

TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV

Theo https://markettimes.vn/kha-nang-suy-thoai-kinh-te-the-gioi-va-kien-nghi-doi-voi-viet-nam-13190.html

Chuyên gia chỉ cách xuống tiền đầu tư trong năm 2023

Theo các chuyên gia, gửi tiết kiệm sẽ là kênh đầu tư an toàn và hiệu quả trong năm 2023 khi mức lãi suất liên tục tăng cao.

Những câu chuyện thương mại điện tử B2B hàng đầu năm 2022

Hơn 30 câu chuyện cho thấy cách các nhà sản xuất và phân phối B2B trên thế giới đối phó với những thách thức và cơ hội của năm 2022

Boeing bay cao với doanh thu thương mại điện tử trị giá 2 tỷ USD

Vào năm 2021, doanh thu trực tuyến của Boeing Distribution Inc. cao hơn 15% so với mức trước đại dịch, trong khi đơn đặt hàng cao hơn 20%. Doanh số bán hàng thương mại điện tử tăng mạnh hơn khi Boeing Distribution tung ra các công cụ mới để cải thiện trải nghiệm trực tuyến của khách hàng.

Keysight Technologies phát triển trên toàn cầu với headless commerce

Nhà sản xuất thiết bị kiểm tra điện tử trị giá hàng tỷ đô la đang thu hút nhiều khách hàng và đối tác phân phối của mình thông qua nền tảng công nghệ thương mại không đầu khi nền tảng này phát triển trên toàn thế giới.

Các nhà sản xuất đã tăng doanh số thương mại điện tử B2B nhanh hơn bất kỳ kênh nào khác

Các nhà sản xuất thông qua các trang web và ứng dụng của riêng họ cũng như trên các thị trường B2B đã tăng trưởng thương mại điện tử 18,4% vào năm 2021 lên 543,25 tỷ USD, theo Báo cáo sản xuất năm 2022 của DC360.

Doanh số thương mại điện tử của nhà phân phối B2B tăng 25% vào năm 2022

Thị trường kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế Hoa Kỳ đang trải qua quá trình chuyển đổi kỹ thuật số. Và sự chuyển đổi đó của các tổ chức thuộc mọi quy mô đang được thúc đẩy bởi thương mại kỹ thuật số, theo dữ liệu và phân tích có trong Báo cáo phân phối B2B năm 2022 từ Digital Commerce 360.

Phương pháp tiếp cận toàn diện của MSC Industrial Supply đối với trải nghiệm khách hàng

Nhà phân phối vật tư công nghiệp và gia công kim loại trị giá hàng tỷ đô la đang xây dựng các hoạt động bán hàng, tiếp thị và dịch vụ tích hợp để cải thiện trải nghiệm và chuyển đổi của khách hàng trên các kênh.

Zoro.com của Grainger đạt 1 tỷ đô la doanh số thương mại điện tử B2B

Giúp thúc đẩy sự tăng trưởng đó là sự gia tăng liên tục về số lượng khách hàng đã đăng ký của Zoro, lên hơn 4,4 triệu và số lượng SKU có sẵn của nó, lên 10,3 triệu.

Bài học kỹ thuật số của Fastenal dành cho các nhà phân phối khác: Đa dạng hóa có lợi

Người mua doanh nghiệp thích nhiều kênh kỹ thuật số để mua hàng từ các nhà phân phối. Một ví dụ tuyệt vời về một công ty phân phối làm điều đó là Fastenal. Nó đã tạo ra tổng doanh thu 6.01 tỷ đô la vào năm 2021 và vận hành mạng lưới chi nhánh gồm 3,209 địa điểm tại 25 quốc gia.

Doanh số bán hàng B2B Pro của The Home Depot tăng nhanh hơn so với hoạt động kinh doanh bán lẻ

Giám đốc điều hành cho biết doanh số bán hàng cho khách hàng Pro của chuỗi bán lẻ — nhà thầu và người mua B2B khác — đã vượt xa người tiêu dùng tự mua hàng trong quý hai khi Home Depot tiếp tục xây dựng hệ sinh thái kỹ thuật số của mình để hỗ trợ bán hàng trên nhiều kênh, bao gồm cả đại diện bán hàng được kết nối kỹ thuật số .

Tại sao ODP Corp. kỳ vọng công ty khởi nghiệp Varis của mình sẽ đảo lộn mua sắm

Được dẫn dắt bởi một cựu giám đốc của Amazon Business, Varis sẽ “ra mắt hoàn toàn” vào mùa thu này trong khi nó tìm kiếm các nhà đầu tư “chiến lược” và để mắt đến sự tăng trưởng với các công ty vừa và nhỏ cũng như lớn. Varis đã khởi động vào đầu năm ngoái và đã phục vụ 21,000 địa điểm của khách hàng, ODP cho biết.

Làm cho nội dung web có giá trị hơn cho người bán sản phẩm điện

IDEA, một tổ chức quản lý dữ liệu cho ngành công nghiệp sản phẩm điện, đã cùng với công ty giám sát nội dung web Content Status đưa ra một phương thức mới cho các nhà sản xuất và nhà phân phối để đảm bảo các sản phẩm hiển thị trên trang web của họ thu hút người mua.

Thông tin thêm về các nhà sản xuất

Cách Caterpillar bán được 10 triệu đô la phụ tùng trực tuyến của đại lý mỗi ngày

Doanh số bán phụ tùng thương mại điện tử của Caterpillar hiện đã vượt quá 2 tỷ đô la hàng năm chủ yếu do tích hợp kỹ thuật số chặt chẽ hơn với các đại lý của mình và đầu tư lớn hơn vào công nghệ kỹ thuật số và di động.

Cách một nhà sản xuất công nghệ sinh học ra mắt trang web thương mại điện tử thân thiện với người mua

Nhận thấy trang web thương mại điện tử của mình không dễ tìm và sử dụng như các trang web hoặc thị trường của đối thủ cạnh tranh, Rockland Immunochemicals Inc. bắt đầu thiết kế lại trang web để thu hút người mua.

Cách EcoEnclose tùy chỉnh trang web của mình để có trải nghiệm người mua tốt hơn

Với nền tảng thương mại điện tử cũ cho thấy tuổi đời của nó, nhà cung cấp bao bì bền vững EcoEnclose đã chọn một nền tảng mới với nhiều tính năng tùy chỉnh để thu hút khách hàng mới và giữ chân những khách hàng hiện có quay trở lại.

Dữ liệu kỹ thuật số và thương mại thúc đẩy tăng trưởng của nhà sản xuất

Protective Industrial Products Inc., nhà sản xuất bán buôn quần áo bảo hộ lao động và các sản phẩm an toàn, xây dựng hướng đi trong tương lai của mình bằng kinh doanh thông minh và thương mại kỹ thuật số.

Cách nhà sản xuất Bradley Corp. thu hút các đối tác kênh và khách hàng

Là nhà sản xuất các sản phẩm nhà vệ sinh thương mại và thiết bị an toàn công nghiệp, Bradley đã ra mắt trang web thương mại điện tử B2B được thiết kế để tương tác hiệu quả với các đối tác kênh, đại diện bán hàng và khách hàng. Kết quả bao gồm quy trình đặt hàng cho khách hàng được cải thiện nhiều và chi phí vận chuyển thấp hơn.

Nhà phân phối và bán buôn:

Doanh số bán hàng trực tuyến quý I tăng 49% tại Genuine Parts Co.

Nhà phân phối sản phẩm ô tô và công nghiệp đã trích dẫn các khoản đầu tư liên tục vào cả hoạt động B2B và B2C để phát triển kênh kỹ thuật số của mình. Nó cũng báo cáo doanh thu quý 1 kỷ lục là 5,3 tỷ đô la, tăng 19% so với một năm trước đó.

Doanh số bán hàng của nhà phân phối đang trên đà tăng trưởng lành mạnh bất chấp những khó khăn

Digital Commerce 360 ​​dự đoán rằng tổng doanh thu năm 2022 cho tất cả các nhà phân phối và nhà bán buôn sẽ tăng lên khoảng 8.000 nghìn tỷ đô la. Đó sẽ là mức tăng 20,4% từ 6,644 nghìn tỷ đô la vào năm 2021.

Univar Solutions chuyển sang kỹ thuật số nhiều hơn để làm hài lòng khách hàng

Nhà phân phối nguyên liệu hóa học cho nhiều ngành công nghiệp đã xây dựng một bộ sưu tập các trang web thương mại điện tử và công cụ kỹ thuật số để tập trung hơn vào khách hàng. Kết quả là, nó đã tăng gấp đôi số lượng khách hàng trực tuyến và đơn đặt hàng thương mại điện tử. Steve Martinez, phó chủ tịch, giải pháp kỹ thuật số, sẽ phát biểu về các chiến lược thương mại kỹ thuật số tại EnvisionB2B tới đây.

Tìm hiểu người mua trên web tốt hơn thúc đẩy tăng trưởng cho nhà phân phối Kele

Thử nghiệm cá nhân hóa đã tạo ra tỷ lệ chuyển đổi từ 40%-60% cho các đề xuất phù hợp, khuyến khích Kele xây dựng nền tảng dữ liệu khách hàng mới. Loại dữ liệu mà Kele dự định đóng gói vào các tệp khách hàng của mình minh họa mức độ cá nhân hóa phức tạp hơn trong thương mại điện tử B2B so với B2C.

Các nhà phân phối thực phẩm lớn có nhu cầu ngày càng tăng đối với phần lớn hơn của thương mại điện tử

US Foods Inc. và Sysco Corp. là hai trong số những nhà phân phối thực phẩm lớn nhất. Mỗi công ty đã đưa ra một kế hoạch thương mại điện tử tăng tốc để phục vụ việc đặt hàng kỹ thuật số nhanh hơn cho khách hàng..

Bay Fastening Systems đang xây dựng một thị trường B2B tốt hơn như thế nào

Michael Eichinger, giám đốc điều hành của Bay Fastening Systems cho biết giá trị của thị trường BaySupply.com là giúp mọi người làm việc hiệu quả hơn.

Một nhà bán buôn thời trang thành thạo tích hợp thương mại điện tử

Nhà thiết kế và bán buôn phụ kiện thời trang phương Tây Trenditions LLC đã tích hợp hệ thống thương mại điện tử và EDI B2B của mình với phần mềm kinh doanh back-end để tự động hóa việc xử lý đơn hàng và thúc đẩy doanh số bán hàng.

ODP Corp. xây dựng hoạt động kinh doanh B2B với chủ tịch mới

Sau quý đầu tiên khi doanh số bán hàng B2B tăng 9% trong bối cảnh doanh số chung không đổi, công ty cung cấp vật tư văn phòng đã thăng chức cho David Centrella, cựu chiến binh Office Depot B2B, lên làm phó chủ tịch điều hành công ty và chủ tịch của Giải pháp kinh doanh ODP đa kênh mới được đổi tên.

Thị trường:

Thị trường buôn bán trực tuyến — kênh bán hàng kỹ thuật số B2B phát triển nhanh nhất

Một trong nhiều dấu hiệu cho thấy thị trường B2B đang trở thành một phần của thương mại điện tử chính thống, doanh số bán hàng qua đay đã tăng 130% so với năm trước vào năm 2021 lên 56 tỷ USD, theo ước tính của Digital Commerce 360.

Bán hàng kỹ thuật số trên các thị trường B2B bước vào xu hướng thương mại điện tử

Các thị trường B2B đã tăng phổ biến giữa những người mua và người bán trực tuyến. Báo cáo B2B Marketplace 400 cho thấy lý do tại sao trong dữ liệu và phân tích chi tiết của họ.

Một công ty thị trường B2B đặt mục tiêu tổng doanh số bán hàng là 1,5 tỷ đô la

Liquidity Services Inc. điều hành thị trường trực tuyến cho hàng hóa dư thừa. Nó đã báo cáo một “kỷ lục mới mọi thời đại” về tổng khối lượng hàng hóa trong quý tài chính đầu tiên kết thúc vào ngày 31 tháng 12.

Một công ty vận tải đường bộ lớn nhìn thấy cơ hội thị trường đường dài đối với hóa chất

Schneider National Inc., một công ty dịch vụ hậu cần và vận tải đường bộ lớn, đang đầu tư và hợp tác với chợ thương mại điện tử chuyên về  hóa chất ChemDirect.

Schneider đang giúp nền tảng này triển khai ChemShip, một chương trình hậu cần định hướng thương mại.

Đưa ngành nông nghiệp truyền thống vào thương mại điện tử B2B

Người sáng lập kiêm Giám đốc điều hành Pablo Borquez Schwarzbeck cho biết thị trường B2B trực tuyến ProducePay tạo dựng niềm tin giữa nông dân và khách hàng của họ vì nó nhằm mục đích hợp lý hóa chuỗi cung ứng nông nghiệp như mê cung.

Theo https://thuonggiathitruong.vn/nhung-cau-chuyen-thuong-mai-dien-tu-b2b-hang-dau-nam-2022/

Số hóa chuỗi cung ứng ngành F&B trong tương lai

Số hóa tạo hộ chiếu điện tử cho sản phẩm “from farm to fork – từ nông trại đến bàn ăn”. Đây là giải pháp tối ưu hiệu suất và tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, nhờ dễ dàng truy xuất nguồn gốc sản phẩm, tạo niềm tin cho người dùng.

Theo tập đoàn Schneider Electric, chuyên gia toàn cầu về quản lý năng lượng và tự động hóa, ngành thực phẩm và đồ uống (F&B) đang chuyển dịch từ chế độ sẵn sàng đổi mới trong đại dịch, sang tăng tốc số hóa giành lợi thế sớm vào năm 2023. Các doanh nghiệp phục hồi nhanh nhờ áp dụng công nghệ hiệu quả. Nếu chậm trễ chuyển đổi số, doanh nghiệp có thể phải nhận “bàn thua sớm” trước đối thủ dịch chuyển mạnh mẽ.

Để quản trị hiệu quả các bên liên quan trong toàn bộ chuỗi cung ứng, doanh nghiệp trong ngành cần hướng tới số hóa đồng bộ và liền mạch từ nông trại và đơn vị cung ứng nguyên vật liệu đầu vào, nhà máy sản xuất chế biến và đóng gói, đến hệ thống phân phối thành phẩm đầu ra,…

Số hóa tạo ra một hộ chiếu điện tử cho sản phẩm “from farm to fork – từ nông trại đến bàn ăn”. Đây là giải pháp tối ưu hiệu suất và lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, nhờ dễ dàng trao đổi dữ liệu trên đám mây giúp truy xuất nguồn gốc sản phẩm, tạo niềm tin cho người tiêu dùng.

Song việc số hóa chuỗi cung ứng phức tạp với nhiều thành phần, không hề đơn giản với đặc thù của ngành F&B. Ông Đồng Mai Lâm, – Tổng giám đốc Schneider Electric Việt Nam và Cambodia cho hay, bất kỳ khoản đầu tư nào về công nghệ cũng nên hướng đến một nền tảng mở, dễ dàng kết nối với các phần mềm và cứng khác, đồng thời linh hoạt tùy theo từng mô hình chuỗi.

Theo đó, đồng hành với xu hướng chuyển đổi số của Việt Nam, Schneider Electric mang đến kiến trúc EcoStruxure dành riêng cho ngành F&B với hơn 20 giải pháp toàn diện từ các sản phẩm được kết nối, điều khiển biên và ứng dụng, phân tích và dịch vụ, đáp ứng đa dạng nhu cầu của từng doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng.

Nông trại và đơn vị cung ứng nguyên vật liệu

Với đòi hỏi ngày càng khắt khe của người tiêu dùng về nguồn gốc sản phẩm, đạo đức trong kinh doanh thương mại và phúc lợi động vật, việc tìm kiếm và đảm bảo nguồn nguyên vật liệu phù hợp là rất quan trọng.

Số hóa chuỗi cung ứng ngành FB trong tương lai - 1

Đại diện Schneider Electric cho biết, giải pháp EcoStruxure Plant có thể giúp các đồn điền tăng năng suất 20 lần so với canh tác truyền thống (Ảnh: SE).

Việc này bắt đầu từ việc thu thập tất cả dữ liệu, thông tin về các thành phần trong sản phẩm, các chứng từ kiểm định liên quan và tạo ra một bản đồ liên kết tất cả các nhà phân phối, kể cả những người nông dân đơn lẻ – nấc thang xa nhất trong chuỗi cung ứng.

Tất cả dữ liệu thô này cần được thu thập theo thời gian thực, ví dụ như mỗi trạm thu mua sữa đang thu thập bao nhiêu lít mỗi ngày, nhiệt độ bao nhiêu, độ pH thế nào, bảo quản ra sao,… Tương tự như trang trại gia súc hoặc ngũ cốc, các thông tin này cần được quản lý bởi một hệ thống có thể điều khiển. Điều này sẽ duy trì và cải thiện sản lượng sản phẩm, chẳng hạn như hệ thống AVEVA Insight giúp thu thập các thông số theo thời gian thực tại nhiều địa điểm khác nhau.

Số hóa sẽ giúp các nông trại đạt được giá trị kinh tế hiệu quả hơn, có trách nhiệm và bền vững. Đại diện Schneider Electric cho biết, giải pháp EcoStruxure Plant đã giúp các đồn điền trồng hương liệu vani ở Australia tăng năng suất 20 lần so với canh tác truyền thống, bằng cách tạo lập và kiểm soát chặt chẽ môi trường nhân tạo tối ưu cho cây phát triển. Các cánh đồng ở Pháp cũng tăng 20% năng suất và New Zealand tiết kiệm 50% năng lượng ngay vụ mùa đầu tiên, khi tích hợp giải pháp tưới tiêu và quản lý nước EcoStruxure Geo SCADA Expert.

Nhà máy sản xuất thực phẩm và đồ uống

Nhà máy sản xuất được xem là hoạt động quan trọng trong chuỗi cung ứng để tạo ra lợi nhuận. Do đó, tự động hóa quy trình sản xuất và tối ưu hóa việc quản lý máy móc là yếu tố chính của ngành công nghiệp F&B thế hệ mới. Trong tương lai, các giải pháp số hóa tiến tới nhà máy thông minh sẽ giúp mở rộng quy mô và thúc đẩy hiệu suất với tốc độ chưa từng có.

Số hóa chuỗi cung ứng ngành FB trong tương lai - 2

Nhà sản xuất máy thực phẩm công nghiệp Indonesia Berto Coffee Roaster lắp đặt giải pháp EcoStruxure Machine (Ảnh: SE).

Theo đại diện Schneider Electric, các doanh nghiệp sẽ cần tối ưu hóa thiết bị để rút ngắn thời gian đưa sản phẩm ra thị trường, giảm rủi ro và thời gian ngừng hoạt động do sự cố.

Khi nhà sản xuất máy thực phẩm công nghiệp Indonesia Berto Coffee Roaster cần hiện đại hóa hệ thống để đón đầu cơ hội trong ngành chế biến cà phê, họ đã lắp đặt giải pháp EcoStruxure Machine bao gồm EcoStruxure Machine SCADA Expert và EcoStruxure Machine Advisor. Điều này giúp nhân viên vận hành có thể đảm bảo máy rang cà phê đúng tiêu chuẩn, điều khiển máy từ xa theo thời gian thực cũng như nhận được thông báo ngay lập tức khi xảy ra lỗi. Nhờ đó, doanh nghiệp giảm được 50% thời gian bảo trì, 20% chi phí với tỷ suất hoàn vốn lên đến 173%.

Ở bước tiếp theo, khi sản phẩm đi vào và ra khỏi nhà máy, doanh nghiệp cần truy xuất nguồn gốc toàn diện của sản phẩm đó, chẳng hạn như nguyên vật liệu nào từ lô nào đã được sử dụng cho thứ tự các đơn hàng sản xuất nào. Như vậy, khi sản phẩm được hoàn tất và sẵn sàng được phân phối ra thị trường, nhà sản xuất sẽ nắm được tất cả các thông tin để từ các nguyên vật liệu thô trở thành một sản phẩm hoàn chỉnh như thế nào.

“Giải pháp EcoStruxure Traceability Advisor sẽ hỗ trợ nhà sản xuất bằng cách cung cấp dãy số series duy nhất cho từng sản phẩm. Dựa vào đó, mỗi sản phẩm sẽ được truy vết trên toàn bộ chuỗi cung ứng, cho đến tận từng thùng carton và từng pallet và xác lập mối tương quan giữa chúng để kiểm tra và theo dõi”, đại diện Schneider Electric cho biết.

Hệ thống vận chuyển và trung tâm phân phối thành phẩm

Đại diện Schneider Electric cho rằng, chi phí logistics ở Việt Nam chiếm tới 20% GDP, cao hơn nhiều so với mức trung bình thế giới. Trong một ngành mà nhu cầu của người tiêu dùng về sản phẩm hay thay đổi đi kèm với đòi hỏi phải duy trì chất lượng sản phẩm qua nhiều công đoạn vận chuyển như F&B, chi phí này càng cao hơn. Tuy nhiên, tính linh hoạt trong hoạt động vận chuyển và phân phối có thể được cải thiện nhờ sức mạnh công nghệ.

Trong một tương lai không xa của công nghệ số hóa với hệ thống mở và ứng dụng phần mềm cùng với khái niệm universal automation (tự động hóa vạn năng), việc lập trình tự động hóa cho phép kỹ sư có thể thêm giải pháp, từ nhiều nhà cung cấp vào dây chuyền hiện có một cách nhanh hơn.

“Với giải pháp EcoStruxure Automation Expert mà Schneider Electric đã triển khai ở Trung tâm Phân Phối Thông Minh (TTPPTM) tại Thượng Hải, việc sửa đổi các băng tải cho phù hợp đã trở nên dễ dàng và tiết kiệm chi phí hơn. TTPPTM đã có thể chẩn đoán và xác định các lỗi nhanh hơn đến 4 lần, giảm 45% tỷ lệ sản phẩm trên dây chuyền đang bị sự cố, nhờ đó xuất lượng tăng 5,3%”, đại diện Schneider Electric chia sẻ.

Số hóa giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, tạo ra cầu nối giữa người tiêu dùng và nhà cung cấp trong ngành F&B. Bằng cách tận dụng những cơ hội mới số hóa mang lại, các doanh nghiệp F&B có thể tạo nên sự khác biệt tạo đà tăng trưởng bền vững trong tương lai.

Theo https://dantri.com.vn/suc-manh-so/so-hoa-chuoi-cung-ung-nganh-fb-trong-tuong-lai-20221228195232079.htm

preloader